Hướng dẫn đọc và phân tích Báo cáo tài chính (PL, BS và CF)
1. Báo cáo tài chính là gì?
Báo cáo tài chính (BCTC) cung cấp thông tin liên quan đến tình hình hoạt động tài chính của doanh nghiệp, như: tài sản, nợ, vốn chủ sở hữu, doanh thu, lợi nhuận, dòng tiền…
Báo cáo thường được công bố định kỳ vào cuối mỗi quý và vào cuối năm.
Bộ báo cáo tài chính hoàn chỉnh bao gồm:
- Báo cáo của Ban giám đốc
- Báo cáo của công ty kiểm toán độc lập
- Bảng cân đối kế toán
- Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
- Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
- Thuyết minh báo cáo tài chính
Trong đó bộ 3 báo cáo tài chính quan trọng nhất mà chúng ta cần chú ý là:
- Bảng cân đối kế toán còn được gọi là BS (Balance Sheet)
- Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh còn được gọi là PL (Profit and Loss)
- Báo cáo lưu chuyển tiền tệ còn được gọi là CF (Cash Flow)
Trước khi đi sâu vào từng loại báo cáo tài chính, chúng tôi cần bạn nắm vững về sơ đồ dòng tiền để thuận tiện cho quá trình diễn giải phân tích báo cáo tài chính như sau:

Và mối quan hệ giữa các thuật ngữ cũng có thể diễn giải bằng sơ đồ như sau:

Thông qua sơ đồ, bạn có thể hiểu được mối quan hệ giữa các thuật ngữ một cách trực quan hơn.
Để tải và phân tích Báo cáo tài chính của doanh nghiệp hiện nay rất dễ dàng. Bạn có thể vào trang web như iboard.ssi.com.vn, cafef.vn, vietstock.vn, …

1.1. Bảng cân đối kế toán (BS) là gì?
Bảng cân đối kết toán là tư liệu thể hiện đặc điểm của công ty, mang bề dày lịch sử. Thể hiện qua 3 mục: Tài sản, Nợ phải trả và Tài sản ròng. Đây là tài liệu thể hiện cách quản lý tiền của công ty như thế nào và có hiệu quả không?

Đánh giá hoạt động của công ty theo 2 khía cạnh:
- Bên trái: Cách sử dụng tiền (Dùng tiền như thế nào) thông qua cột Tài sản
- Bên phải: Nguồn tiền (Đã huy động tiền như thế nào) thông qua các nguồn Nợ phải trả và Tài sản ròng.
Các hoạt động của công ty có thể được phân tích và làm rõ thông qua nguyên nhân tiền đã được huy động như thế nào và kết quả tiền đã được chi tiêu ra sao. Bên trái và bên phải của BS phải được thống nhất và đối chiếu với nhau
BS là một chỉ số quan trọng để xem xét lợi nhuận cũng như sự tồn vong của công ty.
Trong số các khoản nợ phải trả, có một khoản Nợ ngắn hạn. Khoản nợ này phải trả trong vòng 1 năm. Nếu Nợ ngắn hạn lớn hơn Tài sản ngắn hạn, là tài sản có thể chuyển thành tiền mặt trong vòng 1 năm thì việc thanh toán rất có thể bị trì hoãn. Do đó, bằng cách xem tỷ số giữa tài sản ngắn hạn và nợ ngăn hạn chúng ta có thể đánh giá được rủi ro chậm trả nợ. Tỷ số này được gọi là Tỷ số thanh toán hiện hành.
Để xác định tài sản của công ty sinh lời đến mức độ nào, chúng ta sẽ tiến hành so sánh giữa Lợi nhuận và Tài sản. Được được gọi là Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA).
Tài sản = Nợ phải trả + Vốn chủ sở hữu
Tài sản
Đây là những thứ thuộc sở hữu của doanh nghiệp, có khả năng tạo ra lợi ích kinh tế cho doanh nghiệp. Tài sản được phân thành 2 loại: Tài sản ngắn hạn và Tài sản dài hạn.
Tài sản ngắn hạn
Là những loại tài sản có thể dễ dàng chuyển đổi thành tiền mặt trong vòng dưới 1 năm hoặc 1 chu kỳ kinh doanh. Bao gồm các mục chính như:
- Tiền và tương đương tiền: gồm tiền mặt và tiền gửi ngân hàng. Tính thanh khoản cao nhất, ít bị tác động bởi kế toán.
- Các khoản phải thu: là số tiền mà khách hàng chưa thanh toán (còn nợ) cho doanh nghiệp. Đây là khoản mục mà bạn cần theo dõi sát sao.
- Hàng tồn kho: Là giá trị hàng dự trữ của doanh nghiệp: nguyên vật liệu, bán thành phẩm, thành phẩm hoặc hàng hóa…
Tùy thuộc từng doanh nghiệp mà tỷ trọng phân bổ hàng tồn kho sẽ khác nhau.
Ví dụ, một doanh nghiệp sản xuất thì sẽ tồn kho một lượng lớn nguyên vật liệu.
Trong khi đó, doanh nghiệp thương mại thì thường tồn kho chủ yếu là hàng hóa, thành phẩm.
Tài sản dài hạn
Là những tài sản sẽ có thời gian sử dụng trên 1 năm. Trong đó, Tài sản cố định là khoản mục quan trọng. Tài sản cố định bao gồm: Tài sản hữu hình (như máy móc thiết bị, nhà xưởng, máy tính…) và Tài sản vô hình (như bằng sáng chế, bản quyền phát minh…)
Nợ phải trả
Nợ phải trả và Vốn chủ sở hữu sẽ nằm trong Nguồn vốn, phản ánh nguồn hình thành tài sản của doanh nghiệp.
Nợ phải trả thể hiện nghĩa vụ tài chính của doanh nghiệp đối với bên ngoài.
Ví dụ như: chủ nợ, nhà nước, nhà cung cấp, người lao động…
Nợ phải trả cũng được chia làm 2 loại:.
- Nợ ngắn hạn: những khoản nợ, nghĩa vụ tài chính phải thanh toán <1 năm.
- Nợ dài hạn: những khoản nợ , nghĩa vụ tài chính được phép thanh toán >1 năm.
Các khoản mục chính ở phần này bao gồm:
- Phải trả người bán: Thể hiện số tiền mà doanh nghiệp chưa thanh toán (còn nợ) cho nhà cung cấp.
- Thuế và các khoản phải nộp nhà nước, Phải trả người lao động…: khoản phải trả của doanh nghiệp đối với nhà nước (Thuế GTGT, thuế TNDN…), phải trả cho người lao động.
- Vay và nợ ngắn hạn/dài hạn: Là khoản tiền vay nợ tín dụng. Nếu như các khoản nợ trên là nợ chiếm dụng (doanh nghiệp không mất chi phí sử dụng vốn), thì với khoản vay này doanh nghiệp phải trả chi phí sử dụng vốn (trả lãi vay cho ngân hàng).
Vốn chủ sở hữu
Vốn góp chủ sở hữu: hay vốn cổ phần, là số vốn thực tế được góp vào doanh nghiệp.
Lợi nhuận chưa phân phối: Nếu trong năm tài chính, doanh nghiệp quyết định tái đầu tư thì phần lợi nhuận giữ lại sẽ được chuyển từ Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh vào tài khoản này.
Ngoài ra có các loại quỹ như Quỹ đầu tư phát triển,…
Mục này đại diện cho tổng giá trị tài sản ròng của doanh nghiệp. Để Bảng cân đối kế toán cân bằng thì con số chênh lệch giữa Tài sản và Nợ phải trả sẽ là Vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp.
Cách đọc Bảng cân đối kế toán
Bước 1: Liệt kê những mục lớn trong Tài sản – Nguồn vốn.
Bước 2: Tính toán tỷ trọng các khoản mục này trong Tài sản và Nguồn vốn, và sự thay đổi của các khoản mục tại thời điểm báo cáo.
Bước 3: Note lại những mục chiếm tỷ trọng lớn, hoặc có sự biến động lớn về mặt giá trị ở thời điểm báo cáo.
Tại sao chúng ta chỉ quan tâm đến những thay đổi lớn và tỷ trọng lớn?
Tìm hiểu tất tần tật những sự thay đổi đang diễn ra trên Bảng CĐKT tốn khá nhiều thời gian, công sức. Việc lựa chọn những khoản mục chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu Tài sản – Nguồn vốn giúp bạn trả lời được câu hỏi: Phần lớn tài sản của doanh nghiệp đang tập trung ở đâu? Nguồn hình thành tài sản của doanh nghiệp chủ yếu đến từ nguồn nào?
Sự thay đổi của những khoản mục này thường sẽ quan trọng hơn, và thể hiện rõ hơn tình hình tài chính của doanh nghiệp.
Một trong những yếu tố quan trọng của sự cân đối tài chính đó là tài sản dài hạn cần được tài trợ bởi nguồn vốn dài hạn tương ứng.
Một doanh nghiệp tài trợ cho 1 dự án đầu tư dài hạn 15 năm chỉ bằng khoản vay 6 năm thì, không sớm thì muộn, điều này sẽ tiềm ẩn rủi ro lớn và đem đến áp lực về khả năng thanh toán cho doanh nghiệp.
Để sớm nhận biết được điều này, bạn cần quan sát xu hướng biến động của Vốn lưu động thuần (NWC):
Net working capital (NWC) = Tài sản ngắn hạn – Nợ ngắn hạn
Nếu NWC có xu hướng giảm dần và đặc biệt chuyển sang âm lớn thì điều này đang báo hiệu sự xuất hiện ngày càng rõ rệt của mất cân đối tài chính. NWC < 0, cho thấy công ty đã dùng nợ ngắn hạn tài trợ cho tài sản dài hạn.

1.2. Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh (PL) là gì?
Báo cáo cho biết “đã phân bổ cho ai, còn lại lợi nhuận bao nhiêu”, phản ánh tình hình lãi lỗ của doanh nghiệp trong vòng 1 năm sau khi lấy doanh thu trừ đi chi phí.

Báo cáo PL cho chúng ta thấy được 3 yếu tố: Doanh thu, Chi phí và Lợi nhuận. PL còn được gọi với tên khác là báo cáo lỗ lãi, là BCTC cho biết lợi nhuận thu được sau khi lấy doanh thu trừ đi chi phí.
Không đơn thuần chỉ ra con số cuối cùng, lãi bao nhiêu mà quan trọng nhất PL cho thấy được chi tiết chi phí đã được dùng vào việc gì, chi bao nhiêu tiền.
PL là báo cáo tính toán lợi nhuận thu được sau khi lấy doanh thu trừ chi phí, và chi phí sẽ được chia ra làm nhiều hạng mục. 5 hạng mục chi phí lớn là:
- Giá vốn bán hàng
- Chi phí bán hàng & Chi phí quản lý
- Lỗ lãi ngoài hoạt động kinh doanh
- Khoản mục bất thường (lỗ hoặc lãi bất thường) khác
- Tiền thuế
Trong PL, thứ quan trọng nhất chính là lợi nhuận còn lại sau khi trừ đi các loại chi phí, hay còn gọi là “lợi nhuận thuần trong kỳ”. Lợi nhuận thuần trong kỳ thuộc về cổ đông. Cổ đông ở đây chính là người đã đầu tư vốn vào công ty, là người nắm giữ cổ phần. Cổ đông hay cũng chính là chủ sở hữu công ty, nên đương nhiên, kết quả hoạt động kinh doanh – lợi nhuận thu được sẽ là của cổ đông. Và PL chính là báo cáo tính lợi nhuận thuần trong kỳ mà cổ đông sẽ nhận được sau khi trừ đi hết tất thảy chi phí trong kinh doanh. Và cũng từ quá trình tính toán ấy, sẽ cho thấy rõ được chi phí đã bỏ ra cho ai, chi ra bao nhiêu.

Tiền vốn
Tiền vốn là chi phí để sản xuất, tạo ra sản phẩm và thường là tiền để trả cho nhà cung cấp.
Chi phí bán hàng và chi phí quản lý
Đây là chi phí tiêu tốn cho hoạt động kinh doanh buôn bán sản phẩm cũng như quản lý doanh nghiệp. Chi phí này bao gồm rất nhiều loại như tiền lương, chi phí nghiên cứu phát triển, chi phí quảng cáo marketing.
Tổng lợi nhuận trên doanh thu
Sau khi lấy doanh thu trừ đi tiền vốn.
Lợi nhuận kinh doanh
Sau khi đã lấy tổng lợi nhuận trên doanh thu trừ đi chi phí bán hàng & chi phí quản lý.
Lỗ lãi ngoài hoạt động kinh doanh
Lỗ hoặc lãi khi hoạt động kinh doanh ngoài phạm vi hạng mục chính của công ty, doanh nghiệp. Ví dụ như doanh nghiệp vay ngân hàng để mở công ty thì hàng năm sẽ phát sinh chi phí lãi vay. Những món tiền như này không phải là chi phí phát sinh để phục vụ cho việc kinh doanh chính sẽ được tính vào lỗ lãi ngoài kinh doanh và được tính toán riêng biệt với lĩnh vực kinh doanh chính.
Lợi nhuận kinh doanh – Lỗ lãi ngoài kinh doanh = Lợi nhuận bình thường.
Khoản mục bất thường (lỗ hoặc lãi bất thường) khác
Là những chi phí mà công ty, doanh nghiệp phải trả ở những trường hợp đặc biệt, không phải thường niên chẳng hạn như những chi phí thiệt hại do gặp phải thiên tai, …
Lợi nhuận bình thường – Lãi lỗ bất thường = Lợi nhuận thuần trước thuế.
Tiền thuế
Chính là thuế thu nhập của doanh nghiệp.
Lợi nhuận thuần trước thuế – Tiền thuế = Lợi nhuận thuần trong kỳ
Bên trên đã giải thích chi tiết những hạng mục của báo cáo PL. Bạn không cần phải nhớ hết chi tiết, chỉ cần bạn hiểu được PL đơn giản là báo cáo tính toán lợi nhuận còn lại sau khi trừ đi tất cả chi phí là đủ.

1.3. Báo cáo lưu chuyển tiền tệ (CF) là gì?
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ là báo cáo tóm tắt về lượng tiền mặt đã thay đổi như thế nào trong 1 năm và tiền mặt được sử dụng vào những việc gì.

Chia số tiền mặt tăng hoặc giảm theo 3 hoạt động: Kinh doanh, Đầu tư và Tài chính. Bằng cách xem xét vào sự tăng giảm của tiền mặt ở 3 hoạt động có thể thấy được tình trạng kinh doanh khi nhìn từ góc độ dòng tiền vào và ra.

Cũng giống như BS và PL, CF là một trong những BCTC. CF có lịch sử ngắn hơn BS và PL. Nó được sử dụng vào năm 2000 tại Nhật Bản, độc lập với PL và BS.
Việc tính toán tiền mặt bằng CF là rất cần thiết bởi lẽ rất khó để nắm được dòng tiền thực tế còn lại trong tay nếu chỉ sử dụng PL để tính toán lợi nhuận. Nếu không có tiền mặt, công ty sẽ phá sản. Cũng có trường hợp, công ty mặc dù có tạo ra lợi nhuận, nhưng lại không có sẵn tiền mặt nên không thể thực hiện các khoản thanh toán cần thiết, kết cục dẫn đến phá sản.
Sự có mặt của CF là để đảm bảo rằng, công ty có đủ tiền mặt và số tiền đó đang được sử dụng một cách hợp lý.
CF (Cash Flow) là một công cụ để xem tiền mặt được sử dụng như thế nào. Nó cũng được dùng để xem xét bao nhiêu tiền mặt đã được sử dụng vào mục đích gì dựa trên sự phân chia thành 3 lĩnh vực: kinh doanh, đầu tư và tài chính. Vì là một bản báo cáo thể hiện sự lưu chuyển (Flow) của tiền mặt (Cash) nên người ta gọi nó là Báo cáo lưu chuyển tiền tệ (Cash Flow Statement), viết tắt là CF.
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ đã được trình bày thành 3 phần tương ứng với 3 dòng tiền: Dòng tiền từ hoạt động kinh doanh, Dòng tiền từ hoạt động đầu tư, và Dòng tiền từ hoạt động tài chính.
- Dòng tiền từ hoạt động kinh doanh: là dòng tiền phát sinh trong quá trình thanh toán cho nhà cung cấp, khách hàng, cho người lao động, chi trả lãi vay, và nộp các khoản thuế cho nhà nước… Đây là lượng tiền mặt mà bản thân doanh nghiệp làm ra, chứ không phải từ việc huy động thêm vốn đầu tư hay vay nợ. Số tiền mặt tăng giảm trong hoạt động kinh doanh sẽ cho chúng ta biết được công ty có thể kiếm được tiền trong lĩnh vực kinh doanh này không?
- Dòng tiền từ hoạt động đầu tư: bao gồm dòng tiền vào và dòng tiền ra có liên quan đến hoạt động đầu tư, mua sắm, thanh lý… tài sản cố định và các tài sản dài hạn khác. Số tiền mặt tăng giảm trong hoạt động đầu tư cho biết công ty có thể đầu tư cho tương lai không?
- Dòng tiền từ hoạt động tài chính sẽ liên quan đến việc tăng/giảm vốn chủ sở hữu (nhận vốn góp mới, thu từ phát hành cổ phiếu, trả cổ tức cho cổ đông…) và vay nợ (chi trả nợ gốc vay, hay vay nợ mới nhận được…). Số tiền mặt tăng giảm trong hoạt động tài chính sẽ cho biết công ty có phải đã vay một khoản mới không?
Vậy tại sao phải chia thành 3 phần: kinh doanh, đầu tư và tài chính? Để có thể hiểu rõ về sự lưu chuyển của tiền mặt, mỗi yếu tố trong 3 phần này đều có ý nghĩa của riêng nó:
- Nếu các hoạt động kinh doanh tạo ra khoản cộng lớn, ta có thể biết được công ty đang kiếm tiền rất tốt trong lĩnh vực kinh doanh của mình.
- Nếu hoạt động đầu tư tạo ra khoản trừ lớn, ta có thể hiểu rằng công ty đang đầu tư mạnh vào các thiết bị, …
- Nếu khoản trừ của hoạt động tài chính lớn, ta có thể thấy các khoản nợ được hoàn trả một cách nghiêm chỉnh.
Bạn sẽ dễ hình dung hơn khi quan sát dòng tiền bởi hình minh họa dưới đây:

Một dòng tiền được xem là lành mạnh khi số tiền kiếm được từ hoạt động kinh doanh, sau đó đầu tư từ số tiền đó và trả nợ.
Khi phân chia sự lưu chuyển của tiền mặt thành các hoạt động kinh doanh, đầu tư và tài chính, chúng ta có thể hiểu được công ty thu được tiền mặt như thế nào và sử dụng tiền mặt vào việc gì.
Bằng cách liên kết 3 lĩnh vực này với nhau, chúng ta có thể thấy được phương châm hoạt động của công ty. Ví dụ, nếu một công ty đang vay tiền từ ngân hàng (tức là tạo ra khoản cộng) trong các hoạt động tài chính thay vì tích cực đưa tiền vào các hoạt động đầu tư (tạo ra khoản trừ), bạn sẽ có thể nhận định được rằng công ty đó đang hướng tới việc mở rộng.

Một trong những dấu hiệu thể hiện tình hình tài chính lành mạnh của doanh nghiệp chính là: dòng tiền trả cổ tức đều đặn trong dài hạn.
Ngoại trừ những doanh nghiệp đang trong thời kỳ tăng trưởng nhanh có thể không trả cổ tức. Còn trong các trường hợp khác, việc kinh doanh có lãi cần đi kèm với một chính sách chi trả cổ tức bằng tiền cho cổ đông.

Việc doanh nghiệp chi trả cổ tức bằng tiền ổn định, đều đặn hàng năm là dấu hiệu quan trọng để chứng tỏ sự lành mạnh về dòng tiền và lợi nhuận mà doanh nghiệp công bố là thực chất.
2. Lưu Ý Quan Trọng Khi Phân Tích Báo Cáo Tài Chính
Một công ty có thể tạo ra lợi nhuận và kinh doanh bền vững bằng cách tạo ra giá trị gia tăng cho xã hội. Các cổ đông đầu tư vì họ có niềm tin rằng công ty có thể tạo ra giá trị gia tăng.
Nói cách khác, công ty không tồn tại độc lập, mà luôn có sự kết nối không ngừng với xã hội.
- Công ty có tạo ra hiệu quả kinh doanh đủ để đáp ứng kỳ vọng của cổ đông không?
- Nếu hiệu quả kinh doanh không được tốt, công ty có thể cải thiện ở đâu?
Nếu nhìn vào bộ 3 báo cáo tài chính, có thể bạn sẽ đặt ra câu hỏi như vậy thông quá các chỉ số quan trọng: Vốn hóa thị trường, Lợi thế thương mại, Tỉ lệ P/B và ROE.

2.1. Vốn hóa thị trường là gì?
Vốn hóa thị trường là số lượng cổ phiếu đã phát hành nhân với giá cổ phiếu thể hiện qua công thức:
Vốn hóa thị trường = Giá mỗi cổ phiếu x Số lượng cổ phiếu đã phát hành

Ví dụ: Nếu công ty phát hành 100 triệu cổ phiếu, mỗi cổ phiếu có giá 90.000 đồng thì vốn hóa thị trường sẽ là 9.000 tỷ đồng.
Càng nhiều người mua cổ phiếu, giá cổ phiếu sẽ càng cao. Vậy tại sao mọi người lại mua cổ phiếu?
Vì muốn kiếm được nhiều tiền. Vì muốn ủng hộ công ty. Có nhiều động cơ và lý do, nhưng nhiều người mua cổ phiếu thực ra vì họ nghĩ rằng công ty này sẽ ngày càng có giá trị. Ví dụ, khi một công ty nào đó sắp tung ra sản phẩm mới và mọi người nghĩ rằng nó sẽ bán chạy, thì vốn hóa thị trường của công ty đó sẽ tăng lên. Khi danh tiếng hoặc tin tức tốt của công ty đi lên, cổ phiếu sẽ được mua vào. Ngược lại, nếu một công ty gặp những kết quả kinh doanh hoặc tin tức không tốt thì khi đó danh tiếng của công ty đi xuống, cổ phiếu sẽ được bán ra.
Vốn hóa thị trường là kết quả của việc tập hợp nhiều kỳ vọng và cảm nhận của nhiều người. Do đó, nó chưa chắc thể hiện giá trị thực của công ty. Tuy nhiên, như hàm ý từ trí tuệ tập thể hay hiệu ứng đám đông. Nếu một cổ phiếu được mua với quy mô lớn thì đó có thể là một gợi ý để định giá cổ phiếu đó trên thị trường.
Vốn hóa thị trường có thể cao hơn hoặc thấp hơn giá trị tài sản ròng mà công ty có ban đầu. Khoảng chênh lệch giữa tài sản ròng và vốn hóa thị trường trở thành một tài sản vô hình hay còn được gọi là lợi thế thương mại.
2.2. Lợi thế thương mại là gì?
Lợi thế thương mại là chỉ những tài sản vô hình như uy tín, bí quyết kinh doanh và sức mạnh thương hiệu, … Là giá trị được tạo ra bởi công sức sáng tạo và nỗ lực của công ty.
Lợi thế thương mại = Vốn hóa thị trường – Tài sản ròng
Ở đây, Vốn hóa thị trường là tổng giá trị của số cổ phiếu đã được mua. Tài sản ròng là tài sản thuần của công ty (giá trị sổ sách).
Ví dụ: Nếu một công ty có vốn hóa thị trường là 900 tỷ đồng và Tài sản ròng là 700 tỷ đồng thì lợi thế thương mại của công ty đó là 200 tỷ đồng.
Nếu vốn hóa thị trường lớn hơn tài sản thuần thì công ty được coi là có lợi thế thương mại. Lợi thế thương mại bao gồm rất nhiều tiêu chí:
- Sức mạnh thương hiệu
- Bí quyết kinh doanh
- Chất lượng sản phẩm
- Hệ thống bán hàng
- Ý tưởng
- Chiến lược
- Tài sản con người
- Lợi thế địa lý
- Ban quản trị, …
Những giá trị này không thể có ngay lập tức mà phải trải qua nhiều công sức sáng tạo và nỗ lực của cả công ty mới đạt được. Giá trị này không được ghi chép trên BS vì không thể đánh giá trên từng tiêu chí đơn lẻ, nhưng về cơ bản nó rất quan trọng trong việc đánh giá một công ty. Thông thường vốn hóa thị trường càng cao thì lợi thế thương mại càng nhiều.
2.3. Tỷ lệ P/B
Tỷ lệ giá cổ phiếu trên tài sản ròng (P/B) thể hiện khả năng tạo ra lợi thế thương mại của doanh nghiệp. Nó cho biết giá trị vốn hóa thị trường thu được so với tài sản ròng, có thể dùng nó để so sánh với công ty khác.
Tỷ lệ giá cổ phiếu trên tài sản ròng (P/B) = Vốn hóa thị trường / Tài sản ròng
P/B là sức mạnh tạo ra giá trị của lợi thế thương mại. P/B càng cao thể hiện lợi thế thương mại càng nhiều. Khi phân tích chỉ số P/B ta sẽ được 2 chỉ số khác là P/E (Hệ số giá trên lợi nhuận) và ROE (Hệ số lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu):
P/B = Vốn hóa thị trường/ Tài sản ròng = (Vốn hóa thị trường/ Lợi nhuận) x (Lợi nhuận/ Tài sản ròng) = P/E x ROE
P/B cho thấy được cả tầm nhìn ngắn hạn thông qua ROE và tầm nhìn dài hạn thông qua P/E. ROE là chỉ số cho thấy tài sản ròng sinh ra bao nhiêu lợi nhuận và P/E là chỉ số thể hiện tiềm năng tăng trưởng trong tương lai và rủi ro như thế nào.
Vì thế P/B là chỉ số quan trọng để đánh giá toàn diện giá trị của một công ty. Có thể nói, P/B bao gồm 2 yếu tố này chính là sự thể hiện một cách đơn giản nhất giá trị của công ty. Cho dù có biết khoản tiền cụ thể của lợi thế thương mại thì cũng rất khó để so sánh. Tuy nhiên, nếu có chỉ số P/B chúng ta có thể so sánh giữa các công ty với nhau.
P/B được biểu thị là “1 lần” hoặc “2 lần”. Nếu tài sản ròng và vốn hóa thị trường có tỉ số là 1:1, thì P/B là 1 lần. Nếu là 1:2 thì P/B là 2 lần.
Cũng có trường hợp P/B nhỏ hơn 1 lần. Điều đó có nghĩa là tài sản ròng lớn hơn giá trị vốn hóa thị trường, tức lợi thế thương mại âm.
Các chỉ số P/B và P/E thường được sử dụng khi đầu tư cổ phiếu. Khi P/B nhỏ hơn 1 lần, cổ phiếu của công ty đôi khi được cho là “rẻ”. Nói cách khác, người ta đánh giá rằng giá cổ phiếu rẻ hơn giá trị vốn có. Nhưng đánh giá đó có lúc đúng và có lúc không đúng. Nếu lý do P/B thấp là do công ty chưa thể hiện được tiềm năng thực sự của mình hoặc chưa đủ sức hấp dẫn đối với thị trường, thì quả thực có thể nói rằng giá cổ phiếu đó “rẻ”. Tuy nhiên, nếu P/B ở mức thấp và vốn dĩ đó đá là mức đánh giá hợp lý thì không thể nói là giá cổ phiếu rẻ được.
Như vậy chỉ số P/B và P/E cũng được sử dụng như một chỉ số đánh giá mức độ rẻ trên thị trường đầu tư chứng khoán. Tuy nhiên các chỉ số này không phải là chỉ số vạn năng thể hiện được hết tất cả mọi thứ. Điều quan trọng là công ty cần cố gắng làm tăng lợi thế thương mại và được xã hội đánh giá cao thì kết quả sẽ hiện lên trong P/B.
2.4. Tỷ lệ ROE (Return On Equity)
Đây là chỉ số thể hiện một cách toàn diện về việc công ty có thể kiếm được bao nhiêu tiền (lợi nhuận) bằng cách sử dụng tài sản ròng (vốn chủ sở hữu).
ROE = Vốn hóa thị trường / Tài sản ròng
ROE là chỉ số quan trọng vì nó cho thấy lý do tại sao sức mạnh tổng thể của một công ty lại cao hoặc thấp. Được thể hiện làm 3 phần qua mô hình phân tích DuPont như sau:
ROE = (Lợi nhuận/ Doanh thu) x (Doanh thu/ Tài sản) x (Tài sản / Tài sản ròng)
Mặt khác:
- Hệ số lãi ròng = Lợi nhuận/ Doanh thu.
- Tỷ lệ vòng quay tổng tài sản = Doanh thu/ Tài sản
- Đòn bẩy tài chính = Tài sản/ Tài sản ròng
Hệ số lãi ròng cho biết có bao nhiêu lợi nhuận trên doanh thu và cho thấy khả năng sinh lời có cao hay không.
Tỷ lệ vòng quay tổng tài sản cho biết có bao nhiêu doanh thu so với tài sản và cho thấy tính hiệu quả có cao hay không.
Đòn bẩy tài chính cho biết có bao nhiêu tài sản so với tài sản ròng và cho thấy tính an toàn có cao không.



