Hướng dẫn đọc bảng điện tử, các quy định trong giao dịch
1. Cách đọc bảng giá chứng khoán
Bảng giá chứng khoán là nơi thể hiện tất cả thông tin liên quan đến giá và các giao dịch cổ phiếu của thị trường chứng khoán.
Thị trường chứng khoán Việt Nam có hai bảng giá riêng đại diện cho hai Sở giao dịch chứng khoán chính thức gồm bảng giá của HoSE (Sở Giao dịch chứng khoán TP HCM) và bảng giá HNX (Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội).
Trong đó, bảng giá HNX bao gồm sàn HNX và thị trường UPCoM. Ngoài ra, trên bảng giá còn có các loại hàng hóa khác như chứng quyền, hợp đồng tương lai…
Ngoài bảng giá được cung cấp bởi mỗi Sở, mỗi công ty chứng khoán cũng xây dựng một bảng giá riêng phục vụ khách hàng. Tuy nhiên, thông số cơ bản của các bảng giá này là hoàn toàn giống nhau và nguồn dữ liệu đều được cập nhật từ hai Sở giao dịch và Trung tâm lưu ký chứng khoán.

Bảng giá hiển thị trạng thái giao dịch của thị trường, từng cổ phiếu, vì vậy, việc nắm từng chi tiết của bảng giá sẽ giúp nhà đầu tư hiểu diễn biến của thị trường, diễn biến từng cổ phiếu đang theo dõi để có các quyết định đầu tư phù hợp.
Kỹ năng đọc – hiểu bảng giá, vì thế, được xem như bài học vỡ lòng mà bất cứ nhà đầu tư nào khi tham gia vào thị trường chứng khoán đều phải học.
Các chi tiết trên một bảng giá, gồm:
Hệ thống đồ thị chỉ số:
- VN-Index: Là chỉ số thể hiện xu hướng biến động giá của tất cả các cổ phiếu niêm yết và giao dịch tại Sở giao dịch chứng khoán TP HCM (HoSE).
- VN30-Index: Là chỉ số giá của 30 cổ phiếu bluechip trên thị trường.
- VNX-AllShare: Là chỉ số chung thể hiện sự biến động của tất cả giá cổ phiếu đang niêm yết trên HoSE và HNX.
- HNX-Index: Là chỉ số được tính toán dựa trên biến động giá cả tất cả cổ phiếu niêm yết và giao dịch tại Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội (HNX).
- UPCOM-Index: Là chỉ số được tính toán dựa trên biến động giá cả tất cả các cổ phiếu giao dịch trên thị trường UPCoM, thuộc HNX.
Danh sách các cột trên bảng giá:
- “Mã CK” (Mã chứng khoán): Là danh sách các mã chứng khoán giao dịch (được sắp xếp theo thứ tự theo Alphabet).
- “TC” (Giá Tham chiếu – Màu vàng): Là mức giá đóng cửa tại phiên giao dịch gần nhất trước đó (trừ các trường hợp đặc biệt). Giá tham chiếu được lấy làm cơ sở để tính toán biên độ giao dịch của cổ phiếu trong phiên. Riêng sàn UPCoM, giá tham chiếu được tính bằng giá bình quân của phiên giao dịch gần nhất.
- “Trần” (Giá Trần – Màu tím): Là mức giá cao nhất mà bạn có thể đặt lệnh mua hoặc bán chứng khoán trong ngày giao dịch. Với sàn HoSE, giá trần tính bằng giá tham chiếu x 7%, sàn HNX là 10% và UPCoM là 15%.
- “Sàn” (Giá Sàn – Màu xanh lam): Mức giá thấp nhất mà bạn có thể đặt lệnh mua hoặc bán chứng khoán trong ngày giao dịch. Biên độ tương ứng với giá trần nhưng là chiều giảm.
- “Tổng KL” (Tổng khối lượng): Là khối lượng cổ phiếu được giao dịch trong một phiên.
- “Bên mua”: Khu vực này hiển thị ba mức giá đặt mua tốt nhất (giá đặt mua cao nhất) và khối lượng đặt mua tương ứng.
- “Bên bán”: Hiển thị ba mức giá chào bán tốt nhất (giá chào bán thấp nhất) và khối lượng chào bán tương ứng.
- “Khớp lệnh”: Khu vực này biểu thị mức giá khớp lệnh gần nhất của một cổ phiếu, bao gồm giá khớp lệnh, khối lượng khớp lệnh và biên độ giá so với tham chiếu.
- “Giá”, bao gồm các cột “Giá cao nhất”, “Giá thấp nhất” và “Giá TB”: Biểu thị biên độ biến động thực tế của cổ phiếu trong phiên giao dịch.
- “Dư mua / Dư bán”: Biểu thị khối lượng cổ phiếu đang chờ khớp ở hai chiều mua và bán.
- “ĐTNN” (Đầu tư nước ngoài): Là khối lượng cổ phiếu được giao dịch của Nhà đầu tư nước ngoài trong ngày giao dịch (gồm hai cột Mua và Bán).
2. Các quy định giao dịch chứng khoán
2.1. Quy định thời gian giao dịch chứng khoán
Ba sàn HoSE, HNX và UPCoM đều giao dịch từ thứ Hai đến thứ Sáu, trừ dịp lễ Tết theo quy định của Nhà nước.
Các sàn bắt đầu giao dịch từ 9h (trừ sản phẩm hợp đồng tương lai giao dịch từ 8h45), nghỉ trưa từ 11h30 đến 13h và đóng cửa lúc 15h.
Tuy nhiên, nhà đầu tư có thể đặt lệnh khi sàn chưa mở cửa. Trong trường hợp này lệnh sẽ ở trạng thái “chờ gửi”, sau đó có giá trị suốt thời gian giao dịch. Các lệnh đặt trong buổi sáng chưa khớp, khớp một phần và chưa huỷ thì sẽ tiếp tục có hiệu lực trong các đợt khớp lệnh buổi chiều.
Thời gian giao dịch cụ thể như sau:

Tại HoSE, 15 phút đầu tiên là phiên khớp lệnh định kỳ xác định giá mở cửa (ATO), được thực hiện trên cơ sở so khớp các lệnh mua và bán tại một thời điểm nhất định. Giá thực hiện là giá có khối lượng giao dịch lớn nhất. Nhà đầu tư không được huỷ hay sửa lệnh trong khung giờ này.
Sau đó đến 14h30 là thời gian khớp lệnh liên tục, thực hiện theo nguyên tắc so khớp lệnh mua và bán ngay khi đưa vào hệ thống giao dịch thay vì cộng dồn và chờ đến một thời điểm nhất định. Các lệnh có mức giá tốt nhất (mua cao, bán thấp) được ưu tiên thực hiện trước.
14h30 đến 14h45 là phiên khớp lệnh định kỳ xác định giá đóng cửa (ATC) với nguyên tắc tương tự ATO. 15 phút cuối phiên là thời gian dành riêng cho các giao dịch thoả thuận dù trước đó nhà đầu tư vẫn được mua bán thoả thuận.
HNX không có phiên ATO nên ngay khi mở cửa giá sẽ được khớp liên tục. Từ 14h30 đến 14h45 là phiên ATC. 15 phút còn lại là phiên khớp lệnh sau giờ theo nguyên tắc mua hoặc bán chứng khoán tại giá đóng cửa.
UPCoM chỉ có phương thức khớp lệnh định kỳ suốt phiên từ 9h đến 15h, trừ giờ nghỉ trưa.
2.2. Biên độ giao dịch cổ phiếu trên các sàn chứng khoán
Biên độ giao dịch giá của cổ phiếu yết trên sàn HoSE là 7%, thấp nhất so với hai sàn còn lại.
Khi giao dịch cổ phiếu trên sàn chứng khoán, chúng ta sẽ đọc thấy các khái niệm giá tham chiếu, giá trần, giá sàn.
Ở đây, giá tham chiếu của cổ phiếu được xác định là giá đóng cửa của ngày giao dịch gần nhất trước đó.
Còn giá tham chiếu của cổ phiếu đăng ký giao dịch trên sàn UPCoM là trung bình cộng của các mức giá giao dịch lô chẵn theo phương thức khớp lệnh trong ngày gần nhất trước đó.
Khi cổ phiếu giao dịch trong phiên, giá trần là giá cao nhất được phép giao dịch, bằng Giá tham thiếu x (1 + Biên độ dao động). Giá sàn (giá thấp nhất) được xác định bằng Giá tham chiếu x (1 – Biên độ dao động).
Còn dưới đây là quy định về biên độ giá cổ phiếu giao dịch tại ba sàn (so với giá tham chiếu).
| Biên độ giá | HoSE | HNX | UpCOM |
| Cổ phiếu trong ngày | 7% | 10% | 15% |
| Cổ phiếu mới niêm yết trong ngày đầu tiên hoặc được giao dịch trở lại sau khi bị tạm ngừng giao dịch trên 25 ngày | 20% | 30% | 40% |
| Cổ phiếu trong ngày giao dịch không hưởng quyền để trả cổ tức hoặc thưởng bằng cổ phiếu quỹ cho cổ đông hiện hữu | 20% | 30% | 40% |
Ví dụ: Giá tham chiếu của cổ phiếu HPG (sàn niêm yết HOSE) ngày 02/07/23 là 26.000 đ. Như vậy giá sàn trong phiên giao dịch ngày 02/07/23 của cổ phiếu HPG sẽ là 26.000 *(1-7%) = 24.180 đ. Giá trần là 26.000 *(1+7%) = 27.820 đ.
Một số trường hợp khác là cổ phiếu chuyển giao dịch từ sàn này sang sàn khác. Lấy ví dụ, khi chuyển giao dịch cổ phiếu niêm yết từ HoSE sang HNX, giá tham chiếu cho ngày giao dịch đầu tiên tại HNX là mức giá đóng cửa tại HoSE trong ngày giao dịch cuối cùng và bước giá sẽ được làm tròn lên 100 đồng gần nhất.
Biên độ dao động giá cho ngày giao dịch đầu tiên đối với cổ phiếu chuyển sàn sang HNX cũng được áp dụng như đối với các cổ phiếu đang niêm yết tại HNX là 10%.
2.3. Giao dịch thoả thuận và khớp lệnh chứng khoán
Ba sàn chứng khoán ở Việt Nam (HoSE, HNX và UPCoM) đều có hai phương thức giao dịch là thoả thuận và khớp lệnh. Trong đó, khớp lệnh được chia thành khớp lệnh định kỳ và khớp lệnh liên tục.
Giao dịch thoả thuận là phương thức bên mua và bán tự thoả thuận các điều kiện giao dịch như giá, khối lượng, hình thức thanh toán rồi thông báo cho công ty chứng khoán của hai bên. Trong trường hợp nhà đầu tư muốn giao dịch thoả thuận nhưng chưa xác định đối tác thì có thể liên hệ với công ty chứng khoán để được nhập lệnh chào mua hoặc chào bán. Khi tìm được đối tác và đạt thoả thuận, công ty chứng khoán sẽ đại diện nhà đầu tư giao dịch.
Giao dịch thoả thuận được thực hiện suốt phiên, trừ giờ nghỉ trưa. Lệnh thoả thuận chỉ có hiệu lực trong ngày và giá phải nằm trong biên độ dao động của hôm đó. Nhà đầu tư không được giao dịch thoả thuận trong ngày đầu tiên cổ phiếu, chứng chỉ quỹ niêm yết hoặc đăng ký giao dịch trên sàn chứng khoán.
Lệnh giao dịch thoả thuận không được phép huỷ. Trong thời gian giao dịch, nếu công ty chứng khoán nhập sai lệnh thoả thuận của nhà đầu tư thì được sửa nhưng phải xuất trình lệnh gốc và được đối tác, Sở Giao dịch chứng khoán chấp thuận.
Giá trị giao dịch thoả thuận không được sử dụng để tính toán các chỉ số như VN-Index, HNX-Index, UPCoM-Index…
Khớp lệnh định kỳ chỉ áp dụng tại HoSE vào hai khung giờ: 9h-9h15 là phiên khớp lệnh định kỳ xác định giá mở cửa (ATO) và 14h30-14h45 là phiên khớp lệnh định kỳ xác định giá đóng cửa. Nhà đầu tư không thể huỷ hay sửa lệnh trong hai khung giờ này.
Phương thức khớp lệnh định kỳ được thực hiện trên cơ sở so khớp các lệnh mua và bán tại một thời điểm xác định. Giá thực hiện là giá có khối lượng giao dịch lớn nhất. Nếu có nhiều mức giá thoả mãn tiêu chí này thì giá trùng hoặc gần với giá lần khớp lệnh gần nhất sẽ được chọn.
Phương thức này sẽ ưu tiên nhà đầu tư đặt lệnh mua giá cao hơn và lệnh bán giá thấp hơn được thực hiện trước. Trong trường hợp lệnh mua hoặc lệnh bán có cùng giá thì lệnh nào nhập vào hệ thống giao dịch trước sẽ được ưu tiên thực hiện.
Khớp lệnh liên tục được áp dụng tại HoSE từ 9h15-11h30 và 13h-14h30, tại HNX là 9h-11h30 và 13h-14h30 còn tại UPCoM là suốt phiên trừ giờ nghỉ trưa. Nhà đầu tư được huỷ, sửa lệnh trong thời gian khớp lệnh liên tục.
Khác biệt lớn nhất của phương thức này so với khớp lệnh định kỳ là sự tức thì, bởi nguyên tắc khớp lệnh liên tục là so khớp lệnh mua và bán ngay khi đưa vào hệ thống giao dịch thay vì cộng dồn và chờ đến một thời điểm nhất định. Các lệnh có mức giá tốt nhất (mua cao, bán thấp) được ưu tiên thực hiện trước. Nếu nhiều lệnh có cùng mức giá như nhau thì lệnh nào vào hệ thống trước sẽ được ưu tiên.
2.4. Giao dịch thoả thuận và khớp lệnh chứng khoán
Ba sàn chứng khoán ở Việt Nam (HoSE, HNX và UPCoM) đều có hai phương thức giao dịch là thoả thuận và khớp lệnh. Trong đó, khớp lệnh được chia thành khớp lệnh định kỳ và khớp lệnh liên tục.
Giao dịch thoả thuận là phương thức bên mua và bán tự thoả thuận các điều kiện giao dịch như giá, khối lượng, hình thức thanh toán rồi thông báo cho công ty chứng khoán của hai bên. Trong trường hợp nhà đầu tư muốn giao dịch thoả thuận nhưng chưa xác định đối tác thì có thể liên hệ với công ty chứng khoán để được nhập lệnh chào mua hoặc chào bán. Khi tìm được đối tác và đạt thoả thuận, công ty chứng khoán sẽ đại diện nhà đầu tư giao dịch.
Giao dịch thoả thuận được thực hiện suốt phiên, trừ giờ nghỉ trưa. Lệnh thoả thuận chỉ có hiệu lực trong ngày và giá phải nằm trong biên độ dao động của hôm đó. Nhà đầu tư không được giao dịch thoả thuận trong ngày đầu tiên cổ phiếu, chứng chỉ quỹ niêm yết hoặc đăng ký giao dịch trên sàn chứng khoán.
Lệnh giao dịch thoả thuận không được phép huỷ. Trong thời gian giao dịch, nếu công ty chứng khoán nhập sai lệnh thoả thuận của nhà đầu tư thì được sửa nhưng phải xuất trình lệnh gốc và được đối tác, Sở Giao dịch chứng khoán chấp thuận.
Lưu ý: Giá trị giao dịch thoả thuận không được sừ dụng để tính toán các chỉ số như VN-Index, HNX-Index, UPCoM-Index…
Khớp lệnh định kỳ chỉ áp dụng tại HoSE vào hai khung giờ: 9h-9h15 là phiên khớp lệnh định kỳ xác định giá mở cửa (ATO) và 14h30-14h45 là phiên khớp lệnh định kỳ xác định giá đóng cửa (ATC). Nhà đầu tư không thể huỷ hay sửa lệnh trong hai khung giờ này.
Phương thức khớp lệnh định kỳ được thực hiện trên cơ sở so khớp các lệnh mua và bán tại một thời điểm xác định. Giá thực hiện là giá có khối lượng giao dịch lớn nhất. Nếu có nhiều mức giá thoả mãn tiêu chí này thì giá trùng hoặc gần với giá lần khớp lệnh gần nhất sẽ được chọn.
Phương thức này sẽ ưu tiên nhà đầu tư đặt lệnh mua giá cao hơn và lệnh bán giá thấp hơn được thực hiện trước. Trong trường hợp lệnh mua hoặc lệnh bán có cùng giá thì lệnh nào nhập vào hệ thống giao dịch trước sẽ được ưu tiên thực hiện.
Khớp lệnh liên tục được áp dụng tại HoSE từ 9h15-11h30 và 13h-14h30, tại HNX là 9h-11h30 và 13h-14h30 còn tại UPCoM là suốt phiên trừ giờ nghỉ trưa. Nhà đầu tư được huỷ, sửa lệnh trong thời gian khớp lệnh liên tục.
Khác biệt lớn nhất của phương thức này so với khớp lệnh định kỳ là sự tức thì, bởi nguyên tắc khớp lệnh liên tục là so khớp lệnh mua và bán ngay khi đưa vào hệ thống giao dịch thay vì cộng dồn và chờ đến một thời điểm nhất định. Các lệnh có mức giá tốt nhất (mua cao, bán thấp) được ưu tiên thực hiện trước. Nếu nhiều lệnh có cùng mức giá như nhau thì lệnh nào vào hệ thống trước sẽ được ưu tiên.
2.5. Các loại lệnh trong giao dịch chứng khoán
Nhà đầu tư phải chọn một trong các loại lệnh như LO, MP, ATO, ATC, PLO để đặt mua hoặc bán chứng khoán, tuỳ vào nhu cầu và thời gian giao dịch.
Lệnh ATO là lệnh giao dịch tại giá khớp lệnh xác định giá mở cửa, chỉ áp dụng cho sàn chứng khoán TP HCM. Lệnh có thể được nhập vào hệ thống trước hoặc trong phiên khớp lệnh định kỳ xác định giá mở cửa. Sau 9h15, lệnh không được thực hiện hoặc phần còn lại của lệnh không khớp hết tự động bị huỷ.
Lệnh ATO được ưu tiên trước lệnh giới hạn (LO) khi so khớp lệnh. Tuy nhiên, phiên khớp lệnh định kỳ xác định giá mở cửa sẽ không xác định được giá khớp lệnh nếu chỉ có lệnh ATO.
Lệnh ATC có đặc tính tương tự lệnh ATO, nhưng để xác định giá đóng cửa vào 14h45. Lệnh ATC được sử dụng trên sàn TP HCM lẫn Hà Nội.

Lệnh giới hạn (LO) là lệnh mua hoặc bán chứng khoán tại một mức giá xác định hoặc tốt hơn. Đây là loại lệnh phổ biến, được nhà đầu tư sử dụng nhiều nhất. Lệnh được thực hiện suốt phiên, trừ giao dịch thoả thuận sau 14h45. Riêng sàn UPCoM thì lệnh này được thực hiện đến 15h.

Lệnh LO có hiệu lực từ khi được nhập vào hệ thống giao dịch cho đến khi kết thúc ngày giao dịch hoặc đến khi bị huỷ bỏ. Trong trường hợp nhà đầu tư đặt lệnh này trước phiên giao dịch hoặc trong giờ nghỉ trưa, hệ thống sẽ thông báo lệnh ở trạng thái “chờ gửi” và chỉ hiệu lực khi phiên giao dịch bắt đầu.
Lệnh thị trường (MP) trên sàn TP HCM là lệnh mua chứng khoán tại mức giá bán thấp nhất hoặc bán chứng khoán tại mức giá cao nhất đang có trên thị trường. Nói cách khác, đây là lệnh mà bên mua hoặc bán chậm nhất giao dịch với bất cứ giá nào.
Nếu chưa khớp hết khối lượng, lệnh MP được xem lệnh mua tại giá bán cao hơn hoặc bán tại giá mua thấp hơn tiếp theo đang có trên thị trường. Sau khi giao dịch theo nguyên tắc này mà vẫn chưa khớp toàn bộ khối lượng đặt lệnh thì lệnh MP được chuyển thành lệnh giới hạn. Trường hợp giá thực hiện cuối cùng là giá trần (đối với lệnh mua) hoặc giá sàn (đối với lệnh bán) thì lệnh MP trở thành lệnh LO mua tại giá trần hoặc lệnh LO bán tại giá sàn.
Lệnh MP chỉ được nhập vào hệ thống trong các phiên khớp lệnh liên tục. Trường hợp không có lệnh LO đối ứng tại thời điểm nhập lệnh thì lệnh MP bị huỷ bỏ.
Sàn chứng khoán Hà Nội diễn giải khái niệm lệnh thị trường tương tự sàn TP HCM, nhưng phân chia các loại lệnh có sự khác biệt. Theo đó, lệnh thị trường trên sàn này được chia thành 3 loại:
- Lệnh thị trường giới hạn (MTL): nếu không thực hiện được toàn bộ thì phần còn lại chuyển thành lệnh LO và áp dụng các quy định về sửa, huỷ đối với lệnh LO.
- Lệnh thị trường khớp toàn bộ hoặc huỷ (MOK), nếu không thực hiện được toàn bộ thì bị huỷ ngay sau khi nhập.
- Lệnh thị trường khớp và huỷ (MAK), tức có thể thực hiện toàn bộ hoặc một phần, phần còn lại sẽ bị huỷ ngay sau khi khớp lệnh.

Lệnh khớp lệnh sau giờ (PLO) chỉ áp dụng cho sàn chứng khoán Hà Nội. Đây là lệnh mua hoặc bán chứng khoán tại mức giá đóng cửa sau khi kết thúc phiên ATC. Nhà đầu tư chỉ được nhập lệnh này vào hệ thống trong khoảng 14h45-15h, nếu có lệnh đối ứng chờ sẵn thì được khớp ngay. Các lệnh PLO không được thực hiện hoặc phần còn lại của lệnh không thực hiện hết tự động bị huỷ.
Trong trường hợp phiên khớp lệnh định kỳ không xác định được giá đóng cửa thì lệnh PLO cũng không được nhập vào hệ thống.
Lệnh điều kiện thực chất là một tính năng để nhà đầu tư mua bán linh hoạt, nhất là những nhà đầu tư không có nhiều thời gian theo dõi bảng điện tử. Lệnh điều kiện chi thành nhiều loại, cụ thể:
- Lệnh điều kiện với thời gian (TCO): nhà đầu tư có thể đặt lệnh trước phiên giao dịch từ một đến nhiều ngày với số lượng và mức giá xác định. Lệnh này có hiệu lực tối đa trong 30 ngày.
- Việc đặt lệnh được thực hiện bất cứ lúc nào, sau đó lệnh nằm chờ trong hệ thống của công ty chứng khoán và chỉ được kích hoạt khi thoả mãn điều kiện chọn trước. Nhà đầu tư có thể chọn hình thức khớp lệnh là phát sinh một lần (đồng nghĩa sau khi được kích hoạt thì dù khớp hết, khớp một phần hay không khớp thì cũng bị huỷ bỏ) hoặc phát sinh cho tới khi khớp hết khối lượng.
- Lệnh tranh mua hoặc tranh bán (PRO): là lệnh nhà đầu tư sẵn sàng mua ở các giá ATO/trần/ATC và sẵn sàng bán ở các giá ATO/sàn/ATC. Lệnh có hiệu lực cho phiên giao dịch kế tiếp sau khi nhà đầu tư đặt và có thể đặt trước cho tối đa 30 ngày giao dịch kế tiếp.
- Lệnh dừng (ST – Stop Order): là lệnh để nhà đầu tư xác định trước giá cắt lỗ hoặc chốt lãi trong tương lai. Lệnh này có hiệu lực ngay khi nhà đầu tư đặt và kéo dài trong 30 ngày.
- Lệnh xu hướng (TS – Trailing Stop/ Trailing Stop Limit): nhà đầu tư sẽ chọn mã chứng khoán và khối lượng muốn giao dịch, cộng thêm khoảng dừng theo giá trị tuyệt đối (nghìn đồng) hoặc giá trị tuơng đối (%). Bên cạnh đó, nhà đầu tư có thể thiết lập thêm giá mua thấp nhất hoặc bán cao nhất. Khi giá chứng khoán chạm đến khoảng dừng hoặc giá thì lệnh sẽ được kích hoạt. Tương tự các lệnh điều kiện khác, lệnh xu hướng có hiệu lực tối đa 30 ngày.
2.6. Đơn vị yết giá chứng khoán
Đơn vị yết giá chứng khoán là mức giá tối thiểu theo quy định trong đặt giá chứng khoán, có thể tác động đến tính thanh khoản thị trường.
Đơn vị yết giá được áp dụng trong việc định giá một cổ phiếu hoặc chứng chỉ quỹ. Ví dụ, đơn vị yết giá nhỏ nhất tại Thái Lan, Đài Loan khoảng 7 đồng, Singapore 16 đồng, Hàn Quốc 19 đồng.
Thông thường, đơn vị yết giá chỉ áp dụng đối với các giao dịch khớp lệnh, giao dịch thỏa thuận thường không quy định đơn vị yết giá.
Quy định về đơn vị yết giá chứng khoán tại các sở giao dịch chứng khoán của Việt Nam:
Sở giao dịch chứng khoán TP HCM (HOSE):
- Đối với cổ phiếu, chứng chỉ quỹ đóng:
| Mức giá | Đơn vị yết giá |
| Dưới 10.000 đồng | 10 đồng |
| Từ 10.000 đồng đến 49.950 đồng | 50 đồng |
| Cao hơn hoặc bằng 50.000 đồng | 100 đồng |
- Đối với chứng chỉ quỹ ETF: Áp dụng đơn vị yết giá 10 đồng cho tất cả các mức giá.
Ví dụ: Cổ phiếu BID niêm yết trên sàn HOSE có mức giá cuối là 43.35 (một cổ phiếu BID có giá 43.350 đồng). Theo quy định của HOSE, đơn vị yết giá của cổ phiếu này là 50 đồng. Nhà đầu tư có thể đặt lệnh mua hoặc bán với giá tăng (hoặc giảm) 50 đồng, như các mức giá: 43.30, 43.25 hoặc 43.40, 43.45, 43.50…

- Với cổ phiếu mức giá dưới 10.000 đồng, ví dụ PTL có giá 4.03 (một cổ phiếu PTL có giá 4.030 đồng), đơn vị yết giá là 10 đồng. Nhà đầu tư có thể đặt lệnh bán với mức giá tăng (giảm 10 đồng) mỗi cổ phiếu, như 4.04 hoặc 4.02;…
Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội (HNX):
- Đối với cổ phiếu, chứng chỉ quỹ đóng:
- Mức giá Đơn vị yết giá: Tất cả 100 đồng
- Đối với chứng chỉ quỹ ETF: Áp dụng đơn vị yết giá một đồng cho tất cả các mức giá.
Ví dụ: Cổ phiếu BKC có giá 9.70 (một cổ phiếu BKC có giá 9.700 đồng). Nhà đầu tư có thể đặt lệnh bán ở mức giá tăng (giảm) 100 đồng: 9.80 hoặc 9.90; 10.00…
Với đơn vị yết giá hẹp, nhà đầu tư sẽ có nhiều lựa chọn đặt lệnh, giúp thị trường tăng thanh khoản vì bước giá càng nhỏ, nhà đầu tư càng dễ mua bán, nhất là đối với các mã có thị giá thấp. Tuy nhiên, lệnh giao dịch có thể bị dàn trải.
Ngược lại, quy định đơn vị yết giá rộng mang lại sự tập trung về mức giá, nhưng lại hạn chế sự lựa chọn mức giá của nhà đầu tư.


