Cách xác định phạm vi vùng giá trị (Wyckoff)
Theo phương pháp Wyckoff, trước khi tìm được vùng giá trị để chúng ta giao dịch. Điều cần làm là xác định xem thời điểm chúng ta phân tích là thuộc giai đoạn nào trong 4 giai đoạn chính của Wyckoff. Trong phần này, chúng tôi chỉ tóm tắt lại các giai đoạn chính. Để đầy đủ và chi tiết nhất, bạn nên tham khảo khóa học Wyckoff của chúng tôi nhé.
1. Xác định giai đoạn Wyckoff
1.1. Giai đoạn Tích Lũy (Accumulation)

Tích lũy là quá trình Smart Money mua cổ phiếu với khối lượng nhiều nhất có thể mà không làm giá cổ phiếu tăng lên, quá trình tích lũy sẽ diễn ra đến khi lượng cung trên thị trường ở vùng giá đó còn rất ít. Việc mua vào này thường diễn ra sau một giai đoạn Downtrend mạnh.
Đối với Smart Money, mức giá càng thấp họ càng mua vào. Không phải tất cả các cổ phiếu ngay khi niêm yết đều được tích lũy ngay lập tức, vì hầu hết các cổ phiếu khi lên sàn đều tăng. Ví dụ, các ngân hàng giữ lại cổ phiếu đang bị cầm cố, các ông chủ giữ lại cổ phiếu để kiểm soát công ty. Đây sẽ là nguồn cung tương lại mà Smart Money sẽ mua ở những vùng giá thấp.
Giai đoạn A
Giai đoạn A đánh dấu sự dừng lại của xu hướng downtrend trước đó. Điểm PS là một dấu hiệu sớm chỉ ra việc xuất hiện một lực cầu lớn bắt đầu hấp thụ. Tại điểm này thì Cung vẫn lớn hơn Cầu. Điểm SCLX xuất hiện sau đó kèm theo biên độ giá lớn và khối lượng tăng mạnh. Những sự kiện này thường rất dễ phát hiện khi quan sát trên đồ thị giá, khi mà xuất hiện những phiên có biên độ giá rộng và khối lượng lớn, điều này có nghĩa là phần lớn nguồn cung đã được hấp thụ bởi Smart Money.
Áp lực bán ở phiên SCLX không duy trì lâu kèm theo việc xuất hiện lực cầu mua khiến cho giá hồi phục trở lại trong ngắn hạn. Các điểm AR chỉ ra rằng SCLX đã hoàn thành. Giai đoạn A được kết thúc khi giá được test lại vùng SCLX và được gọi là ST. Một phiên điều chỉnh test lại vùng giá của SC được gọi là thành công khi áp lực bán đã ít đi tức là biên độ giá hẹp dần và khối lượng ít dần, thường tạo đáy cao hơn hoặc bằng với đáy của phiên SC. Nếu phiên ST có đáy thấp hơn ở phiên SC thì điều này cho ta tín hiệu xu hướng giảm chưa dừng lại và có thể giảm về mức thấp hơn. Đáy của SC và ST sẽ tạo lên đường hỗ trợ trong một giai đoạn tích lũy; tương tự như vậy mức giá cao nhất của phiên AR các định mức kháng cự. Các đường ngang có thể được vẽ để giúp bạn tập trung vào hành vi của thị trường, như trong hai sơ đồ tích lũy ở trên.
Đôi khi xu hướng downtrend có thể kết thúc sớm hơn mà không xuất hiện đầy đủ các tín hiệu như trên. Tuy nhiên sẽ tốt hơn nếu bạn thấy xuất hiện đầy đủ các tín hiệu PS, SC, AR và ST vì chúng không chỉ mang lại một quy luật vận động trên biểu đồ một cách rõ ràng mà còn là dấu hiệu rõ ràng để cho thấy smart money đã bắt đầu tham gia trở lại bằng cách tích lũy mua lại cổ phiếu.
Lưu ý: Trong một giai đoạn tích lũy lại (Xảy ra khi cổ phiếu đang trong xu hướng uptrend), các điểm PS, SC và ST không cần xuất hiện trong giai đoạn A. Thay vào đó, trong các trường hợp như vậy, giai đoạn A trong quá trình tích lũy lại tương tự như trong quá trình phân phối (Tham khảo phần dưới). Các giai đoạn BE trong quá trình tích lũy lại tương tự như trong giai đoạn tích lũy ở nền 1 nhưng thường có thời gian ngắn hơn và biên độ nhỏ hơn so với trong giai đoạn tích lũy ở nền thứ nhất. Giai đoạn tích lũy lại được trình bày trong phần giai đoạn uptrend.
Giai đoạn B
Trong phương pháp phân tích của Wyckoff, giai đoạn B chính là giai xây dựng một “nguyên nhân” (Chính là tạo nền tích lũy) cho một xu hướng tăng mới (Tham khảo phần quy tắc số 2 – “Cause and Effect”).
Đặc điểm của giai đoạn này là xuất hiện sự biến động giá mạnh với biên độ giá lớn ở đầu giai đoạn B, biên độ giá sẽ hẹp dần ở cuối giai đoạn này. Sự biến động mạnh trong giai đoạn này nhằm mục đích rũ bỏ những nhà đầu tư vẫn nắm giữ hàng ở giai đoạn A. Đây là giai đoạn xuất hiện sự hấp thụ chính. Bạn cần quan sát xem sự hấp thụ ở giai đoạn này có hiệu quả hay không, tức là lực cầu hấp thụ có đủ mạnh và lượng cung đã được hấp thụ nhiều chưa. Miễn là nguồn cung vẫn còn ở giai đoạn này thì sự hấp thụ hiệu quả sẽ tạo ra một nguyên nhân rất lớn cho hệ quả tăng sau này. Hãy sử dụng các đường kháng cự và hỗ trợ để xác định vùng giá vận động trong giai đoạn này. Việc so sánh thời gian (số phiên) và mức độ hồi phục cũng như điều chỉnh trong giai đoạn B sẽ giúp bạn biết được các tín hiệu sớm của mức độ hấp thụ tăng lên (Nguồn cung đã hấp thụ nhiều hay ít).
Trong giai đoạn B, smart money tiến hành mua cổ phiếu trên thị trường ở mức giá thấp để chuẩn bị cho giai đoạn đẩy giá sau này. Quá trình tích lũy này có thể mất một khoảng thời gian dài (đôi khi mất hàng năm hoặc lâu hơn), họ tiến hành mua vào cổ phiếu với giá thấp và bán ra một lượng cổ phiếu có sẵn để test cung.
Thường sẽ có nhiều phiên ST trong giai đoạn B, cũng như việc xuất hiện các phiên upthrust ở quanh đường kháng cự. Nhìn chung, Smart money tiến hành mua ròng cổ phiếu trong suốt quá trình tích lũy với mục đích là nắm giữ số lượng lớn cổ phiếu trôi nổi trên thị trường, số lượng càng nhiều càng tốt. Hành động mua gom làm tăng giá và bán ra để đạp giá ở giữ mức kháng cự và hỗ trợ là một tín hiệu đặc trung trong giai đoạn tích lũy.
Ở những thời điểm đầu của giai đoạn B biên độ giá thường rộng kèm theo khối lượng lớn. Vì smart money hấp thụ nguồn cung bán ra, tuy nhiên khối lượng ở những phiên giảm trong giai đoạn tích lũy thường có xu hướng giảm. Khi nguồn cung bắt đầu cạn kiện, đây là dấu hiệu của việc chuẩn bị chuyển sang giai đoạn C.
Giai đoạn C
Giai đoạn này sự hấp thụ gần như hoàn tất và ở giai đoạn này xuất hiện các phiên test cung của smart money mục đích là để kiểm tra xem cổ phiếu đã sẵn sàng cho giai đoạn đẩy giá hay chưa. Như đã nói ở trên, phiên Spring là phiên có mức giá thấp nhất thấp hơn đường hỗ trợ nhưng giá đóng cửa nhanh chóng quay trở lại cao hơn mức hỗ trợ. Đây là một bẫy giảm giá (Bear Trap) nhằm bẫy những nhà đầu tư nhỏ lẻ bán hàng ra và để smart money mua thêm được cổ phiếu giá rẻ.
Trong phương pháp của Wyckoff, những phiên test cung thành công sau phiên Spring (hoặc phiên rũ bỏ – Shakeout) chính là những phiên cho điểm mua đầu tiên có khả năng đem lại mức lợi nhuận rất tốt. Một phiên Spring có khối lượng giao dịch thấp (Hoặc phiên Shakeout với khối lượng thấp) chỉ ra rằng cổ phiếu có khả năng sẵn sàng để tăng giá, vì vậy đây là thời điểm tốt để bắt đầu tham gia mở vị thế mua 1 phần sức mua (kiểu Spring số 1).
Sau điểm Spring giá sẽ tăng lên và vẫn xuất hiện các phiên test nhưng các đáy sau thường cao hơn đáy trước. Phân tích của Wyckoff cho rằng những đáy cao cuối cùng trước khi giá vượt qua đường kháng cự là LPS và điểm này cũng quan trọng như điểm Spring. Việc test cung ở đường hộ trợ là hành động cuối cùng trước khi bắt đầu một xu hướng uptrend. Đây là mục đích chính của giai đoạn C.
Lưu ý: ở trong sơ đồ mô hình tích lũy số 2, việc test cung có thể xảy ra ở đường kháng cự mà không xuất hiện phiên Spring hoặc Shakeout; trong trường hợp này việc xác định giai đoạn C có thể sẽ khó khăn.
Giai đoạn D
Việc test cung thành công ở vùng giá thấp nhất trong giai đoạn C chỉ ra rằng lượng cung còn rất ít, và chỉ cần một lượng cầu nhỏ cũng sẽ làm giá tăng lên. Giá cổ phiếu sẽ tăng lên khi xuất hiện lực cầu nhiều hơn và biên độ giá tăng mạnh hơn. Giai đoạn D chính là điểm cuối cùng của giai đoạn tích lũy.
Giai đoạn C và D rất quan trọng và bạn có thể tiến hành mở vị thế mua sớm ở những giai đoạn này. Các thuật ngữ JAC và SOS biểu thị các hành động giá Breakout. Những phiên điều chỉnh với biên độ giá hẹp và khối lượng thấp được gọi là LPS hoặc BUEC. Trong giai đoạn D, lượng cung được kiểm soát hoàn toàn và các smart money khác bắt đầu nhận ra dấu hiệu của một xu hướng uptrend mới. Điều này khiến họ chú ý đến cổ phiếu và bắt đầu mua vào, nhưng do nguồn cung đã cạn kiện nên lực mua này sẽ làm giá tăng lên rất mạnh và nhanh.
Điều này được xác nhận khi xuất hiện mẫu hình SOS với biên độ giá và khối lượng tăng, và vận động ở những điểm LPS sẽ có biên độ giá hẹp và khối lượng thấp. Trong giai đoạn D, giá ít nhất sẽ tăng lên đến mức kháng cự. Phiên LPS trong giai đoạn này thường là những điểm mua mới hoặc điểm mua gia tăng rất đẹp.
Giai đoạn E
Đây là giai đoạn cổ phiếu đã thoát khỏi nền tích lũy và bắt đầu xu hướng uptrend. Lúc này Cầu vượt trội so với Cung và việc giá tăng là điều hiển nhiên. Những phiên điều chỉnh như shakeout và những kiểu điều chỉnh giá khác thường xuất hiện trong khoàng thời gian ngắn (vài phiên điều chỉnh hoặc thậm chí có thể điều chỉnh trong phiên).
Rèn luyện kỹ năng theo phương pháp Wyckoff Không có phương pháp giao dịch nào thành công tuyệt đối. Vì vậy những nhà giao dịch thành công là những người có cách quản lý rủi ro tốt nhất. Phương pháp của Wyckoff giúp bạn quản lý rủi ra bằng cách tìm kiếm các tín hiệu của một cổ phiếu hàng đầu và có khả năng đem lại lợi nhuận tốt nhất.
Một số các tín hiệu được định nghĩa là: Cổ phiếu hồi phục Break khỏi kênh xu hướng giảm, hình thành giai đoạn tích lũy, hoàn thiện tích lũy với các phiên test cung cuối cùng bằng cách xuất hiện các Spring hoặc LPS sau đó giá tăng liên tục break khỏi nền tích lũy. Thông qua việc rèn luyện các kỹ năng quan sát các tín hiệu này bạn sẽ có khả năng rất tốt trong việc tìm kiếm và sở hữu những cổ phiếu có cơ hội đem lại lợi nhuận tốt nhất.
Để trở thành một người thành thạo phương pháp của Wyckoff và ứng dụng thành công trong thực tế, cách tốt nhất là bạn thực hành liên tục trên các biểu đồ trong quá khứ để tập tìm kiếm và xác định các dấu hiệu.
Một khi hầu hết các cổ phiếu đã được gom bởi Smart Money, sẽ có rất ít hoặc không có cổ phiếu trôi nổi trên thị trường, điều đó khiến cho quá trình đẩy giá sau đó không bị cản lại bởi lực cầu lớn bán ra. Ở thời điểm này (thời điểm không còn cung), các mức kháng cự sẽ được điều chỉnh lên mức cao hơn. Nếu sự tích lũy diễn ra ở nhiều cổ phiếu trên thị trường với nhiều Smart Money khác nhau, ở cùng một thời điểm (Thị trường xuất hiện các điều kiện thuận lợi) giá sẽ bắt đầu được đẩy lên và bắt đầu xu hướng Uptrend của thị trường chung.
1.2. Giai đoạn Tăng Giá (Uptrend)
Phương pháp của Wyckoff có một hệ thống theo dõi xu hướng chính. Việc giá Break khỏi nền tích lũy để bắt đầu một xu hướng Tăng Giá (Uptrend) là một sự kiện quan trọng để chúng ta tìm kiếm cơ hội lợi nhuận. Đặc trưng của giai đoạn này là hình thành các đỉnh đáy mới cao hơn đỉnh đáy cũ và di chuyển bên trong các “Stride”.

Trong giai đoạn tăng giá, không thể bỏ qua giai đoạn quan trọng đó là ggiai đoạn Tích Lũy Lại (Reaccumulation).

Sự tích lũy lại là kết quả của một quá trình tăng giá trước đó cần được củng cố lại. Thành phần của quyền sở hữu cổ phiếu sẽ thay đổi trong suốt quá trình tăng giá (chuyển từ người sở hữu yếu sang mạnh và ngược lại). Khi một xu hướng tăng bắt đầu, cổ phiếu được sở hữu bởi các nhà đầu tư mạnh và Smart Money. Khi nào trong một xu hướng Uptrend xuất hiện sự tham gia đủ nhiều nhà đầu tư nhỏ lẻ, đó là lúc Smart Money bắt đầu bán ra và xu hướng Uptrend kết thúc.
1.3. Giai đoạn Phân Phối (Distribution)
Ở vùng đỉnh tiềm năng của một thị trường có xu hướng Uptrend, nhiều Smart Money sẽ tìm cách bán cổ phiếu mà họ đã mua ở vùng giá thấp trước đó để chốt lời. Hầu hết các nhóm Smart Money đều đặt lệnh bán một lượng rất lớn (cổ phiếu), họ không bán tại một mức giá cố định mà họ sẽ bán trong một vùng giá. Khi họ chưa bán hết lượng cổ phiếu của mình mà giá giảm mạnh thì họ sẽ lập tức mua trở lại nhằm mục đích để không cho giá giảm sâu để họ tiếp tục bán được hàng với giá tốt hơn.
Quá trình này được gọi là quá trình phân phối, và cần phải mất một khoảng thời gian để quá trình này kết thúc.

Giai đoạn A
Giai đoạn A trong giai đoạn Phân phối TR đánh dấu sự kết thúc của xu hướng uptrend trước đó. Tính đến thời điểm của giai đoạn A thì Cầu vẫn chiếm ưu thế nhưng Cung bắt đầu xuất hiện, bằng chứng là những phiên PSY xuất hiện và phiên mua đỉnh điểm là BC. Sự kiện này thường được theo sau bởi các phiên AR và sau đó là các phiên ST của BC thường đi kèm với khối lượng giảm. Tuy nhiên xu hướng uptrend cũng có thể kết thúc mà không xuất hiện hành động mua cực đỉnh (BC) thay vào đó là sự xuất hiên những phiên tăng giá với biên độ hẹp cùng khối lượng giảm, và với cường độ tăng giá giảm dần trước khi xuất hiện một lực bán rất mạnh.
Trong giai đoạn phân phối trong một xu hướng downtrend chính, giai đoạn A có thể trống giống như bắt đầu một giai đoạn tích lũy (Ví dụ đỉnh sau thấp hơn đỉnh trước kèm theo khối lượng giảm dần ở đỉnh). Tuy nhiên, các giai đoạn từ B đến E của giai đoạn tiếp tục phân phối có thể được phân tích theo cách tương tự với phân phối ở vùng đỉnh.
Giai đoạn B
Chức năng của giai đoạn B là xây dựng một “nguyên nhân” để chuẩn bị cho một đợt downtrend sắp tới. Trong giai đoạn này, smart money bắt đầu bán ra lượng lớn cổ phiếu mà họ đang nắm giữ. Điều này báo hiệu cho một đợt giảm giá sắp tới. Một số điểm chính của giai đoạn B trong giai đoạn phân phối tương tự như giai đoạn B trong giai đoạn tích lũy, chỉ khác nhau là hạnh động của smart money là bán ròng trong giai đoạn phân phối và mua ròng trong giai đoạn tích lũy. Ví dụ tín hiệu SOW thường đi kèm với sự gia tăng đáng kể của biên độ giá và khối
lượng giảm.
Giai đoạn C
Trong một giai đoạn phân phối, giai đoạn C có thể được xác nhận khi xuất hiện phiên uppthrust (UT) hoặc UTAD. Như đã nói ở trên, phiên UT ngược lại với phiên Spring. Tức là ở phiên UT giá tăng vượt qua đường kháng cự sau đó nhanh chóng giảm trở lại dưới đường kháng cự. Đây là một phiên test cầu còn lại. Nó cũng chính là một bẫy tăng giá (Bull Trap) – phiên này tạo ra một tín hiệu giả rằng giá sẽ tăng trở lại nhưng thất bại. UT hoặc UTAD cho phép smart money đánh lừa đám đông mua vào ở những phiên này tức là họ bán được thêm một lượng cổ phiếu với giá cao trước khi bắt đầu downtrend.
Trong phái sinh bạn có thể mở vị thế bán sau khi xuất hiện phiên UT hoặc UTAD với tỉ lệ rủi ra không cao. Tuy nhiên smart money thường liên tục tạo ra các phiên UT hoặc UTAD để đánh lừa những nhà đầu tư mở vị thế bán sớm. Vì vậy sẽ an toàn hơn nếu bạn có thể chờ tham gia ở giai đoạn D và LPSY.
Thường lực Cầu quá yếu khiến cho giá không tăng trở lại được mức giá ở BC hoặc ST ban đầu. Trong trường hợp này, những phiên test cầu ở giai đoạn C được xác nhận bởi phiên UT có mức giá cao nhất thấp hơn mức giá kháng cự.
Giai đoạn D
Giai đoạn D xuất hiện sau những phiên Test cầu ở giai đoạn C cho chúng ta thấy những lực cầu cuối cùng. Trong giai đoạn D, giá được điểu chỉnh giảm về mức hỗ trợ. Bằng chứng cho thấy nguồn Cung đang tăng lên vượt Cầu là giá giảm xuyên qua đường hỗ trợ hoặc những điểm giá hồi phục yếu ở dưới điểm trung bình của vùng phân phối sau những phiên UT hoặc UTAD. Thường có nhiều đợt hồi phục yếu ớt xuất hiện trong giai đoạn D.
Trong Phái sinh hoặc Forex các LPSY này là cơ hội tuyệt vời để bắt đầu tham gia mở vị thế bán hoặc gia tăng vị thế bán nếu bạn đã tham gia ở giai đoạn trước. Bất cứ nhà đầu tư nào vẫn giữu vị thế mua trong giai đoạn D đều bị lỗ.
Giai đoạn E
Là sự tiếp tục của xu hướng Downtrend; cổ phiếu rời khỏi vùng phân phối và lúc này nguồn cung chiếm ưu thế hoàn toàn. Một khi đường hỗ trợ bị phá vỡ trên một phiên SOW mạnh, phiên Breakdown này thường được test lại bằng một phiên hồi phục yếu ớt về vùng hỗ trợ trước đó nhưng thất bại. Điều này cũng thể hiện cơ hội để gia tăng vị thế Bán. Các phiên hồi phục tiếp theo trong một xu hướng Downtrend thường là rất yếu ớt, tức là đỉnh sau thấp hơn đỉnh trước và đáy sau thấp hơn đáy trước.
Nếu bạn đã mở vị thế short trước đó thì hãy đặt trước lệnh cắt lỗ ở mức giá tại các đỉnh trước đó. Sau một đợt giảm đáng kể sẽ xuất hiện những phiên hồi phục và nếu xuất hiện những phiên có khối lượng giao dịch lớn nhưng giá đi ngang thì có thể đấy là giai đoạn tiếp tục phân phối trong một xu hướng Downtrend hoặc cũng có thể là bắt đầu lại một giai đoạn tích lũy.
1.4. Giai đoạn Giảm Giá (Downtrend)
Một khi giai đoạn phân phối hoàn thiện, giai đoạn Markdown bắt đầu. Giá giảm sau khi kết thúc giai đoạn phân phối có thể sẽ biến động lộn xộn (lỏng lẻo). Khi Smart Money tham gia mua thì sẽ làm cổ phiếu tăng. Nhưng khi họ không còn muốn nắm giữ nữa, họ sẽ bán ra. Lúc này họ thực hiện việc phân phối thông qua giai đoạn phân phối cho công chúng (những người yếu nắm giữ ).
Khi thị trường đã được phân phối xong thì giá sẽ giảm một cách nhanh chóng. Chúng ta sẽ nghiên cứu giai đoạn Markdown và các thuộc tính của chúng. Chúng ta thường nghe khái niệm xu hướng là một người bạn (Trend is your friend), có điều xu hướng Downtrend là một người bạn ít thân thiện hơn xu hướng Uptrend. Chúng biên động đột ngột và thường khó để giao dịch. Tóm lại Downtrend là một người bạn không thân thiện.
Trong xu hướng Downtrend giá có thể vận động trong một kênh xu hướng giảm (Đường kênh là đường được tạo ra bởi đường kháng cự và hỗ trợ). Hoặc giá có thể xuất hiện các thanh Downbar kèm theo GAP, dừng lại, và lại tiếp tục xuất hiện các phiên giảm kèm theo GAP. Trong thị trường Uptrend Smart Money sẽ thường đặt lệnh mua ở mức giá thấp hơn để đỡ cho giá không giảm (hoặc là hành động mua gom) điều này khiến cho các đợt điều chỉnh thường sẽ không mạnh.
Nhưng ở xu hướng Downtrend sẽ không xuất hiện một lực cầu đỡ của Smart Money, do đó khi giá giảm rất khó để giao dịch. Xây dựng kênh xu hướng bắt đầu bằng một đường Supply. Đây là đường Trendline được vẽ cắt qua các đỉnh của mỗi đợt hồi phục giá. Hầu hết các nhà đầu tư trong giai đoạn này thường vẫn kỳ vọng vào một mức giá cao hơn vì vậy thường thì họ sẽ không có khái niệm kẻ một đường xu hướng giảm. Bạn phải luôn cảnh giác trong giai đoạn này, vì sau mỗi lần hồi phục và tạo đỉnh giá có thể giảm rất nhanh.
Sau một thời gian Downtrend có thể sẽ xuất hiện một giai đoạn phân phối lại (SSR). Đây là phạm vi giao dịch Sideway có thể kéo dài vài tuần đến nhiều tháng. SSR thường sẽ làm gián đoạn kênh xu hướng giảm. Sau khi hoàn thành giai đoạn SSR, giá sẽ tiếp tục xu hướng downtrend trước đó.

Thị trường Downtrend là một dạng biến động rất khó lường, nó có thể nhanh hoặc chậm, mạnh hoặc yếu hoặc là một dạng biến động khác mà bạn khó có thể dự đoán được. Thị trường Downtrend thường ít được nghiên cứu hơn những giai đoạn khác. Sau một giai đoạn Downtrend mọi người thường nhanh chóng quên chúng.
Trong một thị trường Downtrend hầu như tất cả cổ phiếu đều không có lực cầu mua vào. Lúc này hầu hết cổ phiếu đều nằm trong tay công chúng chứ không phải Smart Money. Giai đoạn Markdown là giai đoạn chính của cả xu hướng Downtrend. Tuy nhiên bên trong một quá trình Markdown có rất nhiều hành vi giá, đa số các hành vi giá trong giai đoạn này chúng ta nên tránh tuy nhiên vẫn có một số hành vi tạo cho chúng ta cơ hội để giao dịch.
Giai đoạn phân phối lại là giai đoạn mà giá tạm dừng sau một giai đoạn giảm mạnh trước đó trước khi tiếp tục xu hướng Downtrend. Rất nhiều nhà đầu tư thường nhầm lẫn giữa giai đoạn tích lũy lại như là một giai đoạn tích lũy. Do đó mục tiêu của phần này là hướng dẫn bạn có những kỹ năng để phân biệt sự khác nhau giữa hai giai đoạn này.

2. Xác định vùng phạm vi giao dịch
Dựa vào công cụ Volume Profile, chúng ta sẽ xác định được các Vùng thanh khoản lớn (HVN) và Vùng thanh khoản thấp (LVN) theo bản chất, chúng sẽ thiết lập các khu vực tuyệt vời để tìm kiếm các cơ hội tiềm năng.

VWAP và VPOC là những mức xác định sự kiểm soát của thị trường vì vậy chúng ta sẽ chờ đợi tín hiệu giá chấp nhận hoặc từ chối tại các vùng giá quan trọng này. Trong thực tế đôi khi giá phá vỡ các mức quan trọng trên mà không có đợt test nào và di chuyển rất nhanh qua vùng giá trị khác.
Lưu ý: Thị trường có xu hướng di chuyển bên trong Vùng HVN. Khi giá break ra khỏi vùng HVN thì có xu hướng di chuyển rất nhanh qua vùng LVN (Low Volume Node) để hướng đến vùng HVN (High Volume Node) tiếp theo.
Khi tham gia thị trường chứng khoán, việc xác định bối cảnh của thị trường đang nằm trong giai đoạn nào (Tích Lũy, Phân Phối, Tăng Trưởng hay Giảm Giá) từ đó tìm kiếm vùng giá trị để vào lệnh thích hợp sẽ tối ưu được lợi nhuận cho các nhà đầu tư.


