Kết hợp Wyckoff và SMC trong giao dịch
1. Lý thuyết Wyckoff
Có thể nói lý thuyết Wyckoff chiếm một vai trò rất quan trọng trong hệ thống này vì nó thường xuyên được sử dụng. Trước tiên chúng ta cần nắm được khái niệm cơ bản về Wyckoff trước, sau đó thì đi vào một vài ví dụ minh họa nhé.
1.1. Vùng tích lũy
Chúng ta quan sát hình bên dưới:

Như hình trên chúng ta thấy có 4 mô hình trong mỗi giai đoạn tích lũy và phân phối, tuy nhiên trong nội dung phần này thì chúng ta chỉ tập trung vào một mô hình mà hầu hết trader đều biết và sử dụng.
Đầu tiên sẽ nói về giai đoạn tích lũy trước. Có 5 giai đoạn nhưng chúng ta chỉ cần nắm được 4 giai đoạn đầu là giai đoạn A-B-C-D như ở hình trên. Ở giai đoạn 5 thì thường chúng ta không tìm được tín hiệu vào lệnh tốt nữa.
Giai đoạn A (Phase A)
Trong giai đoạn A ta có các thuật ngữ là:
• PS (Preliminary Support): Là vùng hỗ trợ nơi mà phe mua bắt đầu đẩy giá lên một cách đáng kể sau một xu hướng giảm mạnh. Khối lượng tăng và spread cũng mở rộng là tín hiệu cho thấy xu hướng giảm có thể sẽ kết thúc sớm.
• SC (Selling Climax): Áp lực bán tại thời điểm này thường rất lớn, thể hiện được người bán trong hoảng loạn và nó thường được hấp thụ bởi các banker hoặc các tổ chức lớn.
• AR (Automatic Rally): được hình thành khi áp lực bán mạnh trước đó đã giảm xuống. Đợt sóng tăng sẽ đẩy giá lên. Giá cao nhất của đợt tăng giá này sẽ giúp chúng ta nhận biết được giới hạn trên của giai đoạn tích lũy. Giá bắt đầu đi ngang trong một phạm vi và hình thành ST.
• ST (Secondary Test): Giá quay lại kiểm tra vùng SC như một vùng cầu. Nếu đáy được xác nhận, khối lượng và spread được giảm xuống đáng kể. Thông thường thì có nhiều ST sau giai đoạn SC. Bạn có thể thấy rõ điều này hơn ở giai đoạn B.
Giai đoạn B (Phase B)
Ta thấy ở giai đoạn B có ST thấp hơn SC, và ta gọi đó là STB. Đó là một cú kiểm tra ở giai đoạn B.
Giai đoạn C (Phase C)
Ở giai đoạn này thì cú Spring thường xảy ra và ở vùng giá đi ngang. Giá giảm xuống bên dưới vùng giá thấp nhất của vùng giá đi ngang nhưng sau đó thì nó quay lại tăng giá. Hành động giá này được xem như một cú lừa về xu hướng tương lai của thị trường và cho phép các tổ chức lớn mua vào khi giá bắt đầu tăng ngược trở lại.
Các trader tổ chức sẽ chờ cho giá phá vỡ khỏi cấu trúc (BOS) và sau đó quay trở lại kiểm tra vùng cung (hoặc order block) một lần nữa rồi vào lệnh, vùng Test chính là vùng mà trader tổ chức có thể vào lệnh để giao dịch:
Giai đoạn D (Phase D)
Nếu ở giai đoạn C cú kiểm tra thất bại hoặc bỏ lỡ tín hiệu thì bạn có thể vào lệnh ở điểm LPS trong giai đoạn D (The Last Point of Support). Đó là điểm thấp nhất của cú phản ứng giá hoặc cú hồi.
Chúng ta sẽ tìm một vùng order block ở cuối cú hồi này để tìm điểm vào lệnh:
Sau đó chúng ta có SOS (Sign of Strength), giá và spread tăng lên ở vùng này.
Tương tự giai đoạn phân phối cũng diễn ra với các giai đoạn như thế.
1.2. Vùng phân phối
Chúng ta quan sát biểu đồ bên dưới là vùng phân phối:

Vùng phân phối cũng tương tự như vùng tích lũy, chúng ta có 4 giai đoạn A-B-C-D.
Giai đoạn A (Phase A)
Cũng tương tự như giai đoạn A của vùng tích lũy, chúng ta có những thuật ngữ tương tự:
• PSY (Preliminary Supply): Là nơi áp lực của người mua bắt đầu giảm xuống sau một xu hướng tăng dài. Khối lượng tăng lên và spread trong giai đoạn này được mở rộng cho thấy xu hướng tăng sẽ kết thúc sớm.
• BC (Buying Climax): Áp lực mua tại thời điểm này thường rất lớn, thể hiện được người mua trong hoảng loạn và nó thường được hấp thụ bởi các banker hoặc các tổ chức lớn.
• AR (Automatic Rally): Được hình thành khi áp lực mua mạnh trước đó đã giảm xuống. Đợt sóng giảm sẽ đẩy giá xuống. Giá thấp nhất của đợt giảm giá này sẽ giúp chúng ta nhận biết được giới hạn dưới của giai đoạn phân phối. Giá bắt đầu đi ngang trong một phạm vi và hình thành ST.
• ST (Secondary Test): Giá quay lại kiểm tra vùng BC như một vùng cung. Nếu đỉnh được xác nhận, khối lượng và spread nên được giảm xuống đáng kể. Thông thường thì có nhiều ST sau giai đoạn BC. Bạn có thể thấy rõ điều này hơn ở giai đoạn B.
Giai đoạn B (Phase B)
Ở giai đoạn B, sau khi hình thành ST, thì tiếp theo SOW (Sign of Weakness) sẽ xuất hiện. Đó là một đợt giảm giá phá vỡ phạm vi bên dưới của vùng giá đi ngang, sau đó quay đầu tăng lên phá vỡ ngưỡng kháng cự là vùng BC trước đó để tạo ra UT (Upthrust). Sau UT giá thường sẽ kiểm tra lại phạm vi bên dưới của vùng giá đi ngang.
Giai đoạn C (Phase C)
Ở giai đoạn C này, UTAD (Upthrust After Distribution) thường xảy ra sau giai đoạn giá đi ngang và ở phía trên vùng UT. Hành động giá này sẽ tạo ra một dự đoán sai về hướng đi của thị trường và cho phép các tổ chức lớn bán ra ở vùng này.
Sau UTAD, khi giá phá vỡ khỏi cấu trúc (BOS) và sau đó quay trở lại kiểm tra vùng cung hoặc order block một lần nữa trước khi đẩy giá đi xuống.
Đây chỉ là kịch bản đầu tiên của giá. Còn kịch bản tiếp theo đó là giá thất bại trong việc kiểm tra vùng order block, thì lúc này chúng ta nhắm tới điểm vào lệnh tại LPSY (The Last Point of Supply).
Giai đoạn D (Phase D)
Như vậy vùng giá được đánh dấu mũi tên đỏ là vùng order block mà chúng ta đợi giá quay về kiểm tra để vào lệnh.
2. Kết hợp Wyckoff và SMC trong giao dịch thực tế
Các bạn nhìn hình bên dưới, vùng kẻ ngang màu hồng là một ngưỡng kháng cự mạnh:

Sau khi xác định được ngưỡng kháng cự hỗ trợ quan trọng rồi, thì bước tiếp theo của chúng ta đó là tìm ra mô hình Wyckoff lý tưởng để chúng ta giao dịch. Như biểu đồ trên chúng ta thấy thị trường trước đó có xu hướng tăng với động lượng tăng rất mạnh. Như vậy cuối đợt tăng giá này đang ở ngưỡng kháng cự thì chúng ta có thể tìm kiếm giai đoạn phân phối.
Các bạn nhìn phần biểu đồ tiếp theo, chúng ta thấy rằng giá đã phản ứng tại vùng này, chứng tỏ vùng kháng cự này vẫn được tôn trọng:

Như vậy là giá đã được đẩy xuống từ ngưỡng kháng cự mạnh này. Chúng ta sẽ di chuyển xuống khung thời gian thấp hơn là H1. Các bạn nhìn biểu đồ bên dưới để tìm ra mô hình Wyckoff chúng ta cần:

Bạn xem tiếp biểu đồ bên dưới để thấy được cấu trúc mô hình Wyckoff đã hình thành:

Chúng ta thấy giai đoạn A-B đã hình thành, điểm UT cũng đã xuất hiện, việc còn lại là chúng ta chờ thêm một cú phá vỡ giả khỏi điểm UT để tạo UTAD nữa là có thể bắt đầu tìm kiếm tín hiệu giao dịch. Và chúng ta đã có UTAD đồng thời xác định được điểm phá vỡ cấu trúc để xác định vùng cung hoặc order block để giao dịch. Như vậy ở biểu đồ bên dưới chúng ta đã có tín hiệu phá vỡ cấu trúc rồi. Việc tiếp theo mà chúng ta cần làm đó là xác định lại đỉnh đáy mới.
Bước tiếp theo là chúng ta di chuyển về khung M15 để xác định vùng order block để tìm tín hiệu giao dịch. Hình bên dưới là vùng order block được xác định trên khung M15:

Chúng ta có điểm dừng lỗ phía trên đỉnh gần nhất mà trước đó chúng ta xác định. Điểm chốt lời với tỷ lệ RR là 1:3. Và như hình bên dưới thì chúng ta thấy thị trường đã chạm chốt lời:

3. Kết luận
Chúng ta tóm gọn lại một chút nội dung của lý thuyết Wyckoff được áp dụng trong hệ thống SMC của chúng ta như sau:
• Đầu tiên là xác định vùng giá tích lũy hoặc phân phối.
• Tiếp theo xác định được các giai đoạn A-B-C-D.
• Trong đó giai đoạn C là giai đoạn mà chúng ta sẽ tìm kiếm điểm vào lệnh. Sau cú phá vỡ giả vùng Spring (trong vùng tích lũy) hoặc UT (trong vùng phân phối) thì chúng ta đợi thị trường phá vỡ cấu trúc (BOS) tăng hoặc giảm để tìm cơ hội giao dịch.
• Bước tiếp theo là chúng ta xác định vùng order block hoặc vùng cung cầu gần nhất và chờ giá quay trở về kiểm tra để tìm tín hiệu vào lệnh.
• Nếu trường hợp cú kiểm tra bị thất bại thì chúng ta chờ qua giai đoạn D, giá tiếp tục phá vỡ cấu trúc, quay lại kiểm tra vùng order block gần nhất để tìm kiếm cơ hội giao dịch.


