Giai đoạn Tích Lũy (Accumulation) – các Phases và Events
1. Định nghĩa
Tích lũy là quá trình Smart Money mua cổ phiếu với khối lượng nhiều nhất có thể mà không làm giá cổ phiếu tăng lên, quá trình tích lũy sẽ diễn ra đến khi lượng cung trên thị trường ở vùng giá đó còn rất ít. Việc mua vào này thường diễn ra sau một giai đoạn Downtrend mạnh.
Đối với Smart Money, mức giá càng thấp họ càng mua vào. Không phải tất cả các cổ phiếu ngay khi niêm yết đều được tích lũy ngay lập tức, vì hầu hết các cổ phiếu khi lên sàn đều tăng. Ví dụ, các ngân hàng giữ lại cổ phiếu đang bị cầm cố, các ông chủ giữ lại cổ phiếu để kiểm soát công ty. Đây sẽ là nguồn cung tương lại mà Smart Money sẽ mua ở những vùng giá thấp.
Một khi hầu hết các cổ phiếu đã được gom bởi Smart Money, sẽ có rất ít hoặc không có cổ phiếu trôi nổi trên thị trường, điều đó khiến cho quá trình đẩy giá sau đó không bị cản lại bởi lực cầu lớn bán ra. Ở thời điểm này (thời điểm không còn cung), các mức kháng cự sẽ được điều chỉnh lên mức cao hơn. Nếu sự tích lũy diễn ra ở nhiều cổ phiếu trên thị trường với nhiều Smart Money khác nhau, ở cùng một thời điểm (Thị trường xuất hiện các điều kiện thuận lợi) giá sẽ bắt đầu được đẩy lên và bắt đầu xu hướng Uptrend của thị trường chung.
Nếu bạn sử dụng thành thạo phương pháp của Wyckoff bạn sẽ có khả năng dự đoán và đánh giá chính xác xu hướng và cường độ vận động của giá trong giai đoạn tích lũy. May mắn là Wyckoff cung cấp các hướng dẫn để xác định và phân định các giai đoạn và sự kiện trong một giai đoạn tích lũy, việc này sẽ cung cấp cơ sở để bạn có thể ước tính các mục tiêu giá trong xu hướng tiếp theo.
Một xu hướng dài hạn cần phải có giai đoạn tích lũy với số lượng cổ phiếu đủ lớn trước khi bắt đầu xu hướng Uptrend. Điều này phải được thực hiện một cách bí mật. Do đó tích lũy là một quá trình phải diễn ra theo logic, tuần tự mà chúng ta có thể phát hiện ra. Biểu đồ là một công cụ bạn sử dụng để theo dõi hoạt động của Smart Money. Tích lũy là quá trình chuẩn bị cho giai đoạn Uptrend.
Những tín hiệu kết thúc của quá trình Downtrend là dấu hiệu Smart Money xuất hiện để bắt đầu tích lũy cổ phiếu. Khi xuất hiện những tín hiệu này vẫn chưa đủ an toàn để bạn bắt đầu tham gia mua vào, chúng ta nên chờ xuất hiện những tín hiệu xác nhận đã kết thúc giai đoạn tích lũy.
2. Hành động dừng lại của xu hướng Downtrend
Xu hướng Downtrend xuất hiện khi Cung lớn hơn Cầu. Cổ phiếu tự do là tổng số cổ phần được nắm giữ bởi các nhà đầu tư và các nhà đầu tư trên sàn chứng khoán. Ngoại trừ số cổ phần được bán cho đối tác hoặc những cổ phần phát hành cho đối tác thì số cổ phần tự do chuyển nhượng tương đối ổn định. Vậy tại sao lại có sự biến động tăng hoặc giảm? Wyckoff tin rằng đó là sự thay đổi về chất việc sở hữu số cổ phần tự do (Tức là tổng số không đổi nhưng đã chuyển từ tay người này qua tay người khác).
Chất lượng của những người sở hữu cổ phiếu sẽ quyết định đến giá cổ phiếu. Nếu người sở hữu có chất lượng cao thì giá sẽ cao. Nếu chất lượng thấp thì giá sẽ dễ bị tổn thương. Ai đang kiểm soát lượng cổ phiếu trôi nổi này? Nó đang ở trong tay những nhà đầu tư mạnh hay yếu? Đó là những câu hỏi mà bạn luôn phải tìm câu trả lời trong khi bạn đầu tư hoặc giao dịch cổ phiếu.
Giá cổ phiếu giảm thể hiện chất lượng người sở hữu nó kém. Wyckoff cho biết, cổ phiếu giảm tức là nó đang được sở hữu bởi những nhà đầu tư yếu (Week Holder). Trong trường hợp này, giá cổ phiếu có thể sẽ giảm liên tục trong một thời gian dài. Sự thay đổi như thế nào sẽ làm kết thúc quá trình Downtrend? Sau nhiều tháng Downtrend, ở giai đoạn cuối cùng sẽ xuất hiện sự hoảng loạn. Khi sự biến động tăng lên, giá sẽ giảm mạnh. Biên độ giá trong ngày có thể lớn gấp 3-4 lần biên độ giá ở những thời điểm giao dịch bình thường kèm với khối lượng rất lớn.
Quá trình giảm mạnh này sẽ làm cho các nhà đầu tư hoảng loạn. Nhiều người đang tìm cách bán tháo cổ phiếu mình đang nắm giữ. Sự biến động này có thể kèm theo sự xuất hiện của các thông tin tiêu cực về doanh nghiệp hoặc của nền kinh tế. Điều này sẽ tạo thêm tâm lý hoảng loạn. Toàn bộ thị trường có thể bị tác động tâm lý bởi sự suy giảm này. Sự giảm giá ở các cổ phiếu dẫn đầu có thể dẫn đến việc bán tháo ở toàn thị trường, đặc biệt là lực bán mạnh ở các tài khoản sử dụng margin cao.
Việc bán tháo có thể diễn ra trong nhiều ngày và nhiều tuần. Sau một giai đoạn giảm mạnh sẽ xuất hiện phiên Climax. Đây là một ngày giao dịch với khối lượng cao đột biến so với những ngày trước đó (hoặc tuần trước đó). Một thuộc tính của quan trọng của phần lớn những phiên Climax là giá giao dịch trong phiên ở mức rất thấp kèm khối lượng lớn nhưng cuối phiên lại đóng cửa ở phần trên mức giá trung bình trong ngày.
Đây là một ngày rất quan trọng. Ngày này được gọi là CLX. Đây là tín hiệu cho biết nhiều khả năng smart money đã bắt đầu tham gia mua vào phần lớn nguồn cung giá rẻ ở phiên này.
Việc phân tích biểu đồ giá ở phiên này và những ngày sau đó là cách để bạn xác định xem liệu khối lượng giao dịch lớn trong ngày CLX có phải là của Smart Money hay không, có phải họ đã bắt đầu tham gia trở lại và hấp thụ hết lượng cung giá rẻ trong phiên hay không?
Sự hấp thụ này có thể mất vài tuần thậm chí vài tháng và đó là tín hiệu tốt. Khi xuất hiện tín hiệu CLX chúng ta sẽ theo dõi chặt chẽ sự biến động giá để sẵn sàng tham gia giao dịch cùng với smart money khi họ bắt đầu đẩy giá cổ phiếu lên.
3. Sơ đồ mô phỏng 2 kiểu tích lũy và các thuật ngữ
3.1. Sơ đồ giai đoạn tích lũy dạng 1
Đây là sơ đồ vẽ một số đặc điểm trong giai đoạn tích lũy. Trong thực tế sự vận động giá có thể có nhiều biến thể so với sơ đồ này, vì vậy việc xác định các đặc tính chính là yếu tố quan trọng kho đọc biểu đồ. Bạn sẽ phải liên tục so sánh biểu đồ giá thực tế với sơ đồ lý thuyết này để nghiên cứu để phát hiện ra các điều kiện và tín hiệu thực tế.

Trong kiểu tích lũy ở đây có sự xuất hiện của phiên Spring, đây cũng có thể được goi là phiên rũ bỏ (shakeout).

3.2. Sơ đồ giai đoạn tích lũy dạng 2
Sơ đồ tích lũy số 2 minh họa trường hợp giá được test lại vùng hỗ trợ bằng cách tạo ra đáy cao hơn ở phiên Spring trong biểu đồ số 1. Đây được gọi là phiên LPS vì đây là điểm mà tại đó giá đã không giảm nữa và nó vẫn nằm trong vùng tích lũy. Mức giá thấp tại phiên này là điểm dừng cuối cùng trước khi xuất hiện phiên tăng giá vượt ra khỏi nền tích lũy tạo ra một xu hướng Uptrend.

Giải thích các thuật ngữ:
- PS (preliminary support – Điểm hỗ trợ đầu tiên ở cuối một xu hướng downtrend)
Đây là điểm bắt đầu xuất hiện lực Cầu mua vào và tạo ra một mức hỗ trợ đầu tiên sau một giai đoạn downtrend. Khối lượng giao dịch tăng lên và biên độ giá lớn, điều này cho thấy xu hướng giảm có thể sắp kết thúc.
- SC (selling climax – Điểm quá bán)
Đây là điểm mà ở đó biên độ giá và áp lực bán lớn nhất. Lúc này áp lực bán rất lớn (sự hoảng loạn) của đám đông theo tâm lý bày đàn và lực bán này được hấp thụ bởi smart money ở đáy hoặc gần đáy. Thường thì giá đóng cửa cao hơn mức giá thấp nhất trong phiên (rút chân) trong điểm SC, điều này có nghĩa là lực bán ra được hấp thụ bởi smart money.
Thanh thấp nhất cuối cùng thường là thanh hẹp hoặc nó có thể là một thanh dài nhưng với đóng ở trên giữa thanh. Điều này sẽ báo hiệu rằng áp lực giảm đã bị hấp thụ hết bởi lực cầu của smart money.
Mức giá thấp nhất ở phiên SC được xác định là đường hỗ trợ.
Dưới đây là minh họa trường hợp cụ thể của SC.

- AR (Automatic Rally – Sự hồi phục tự nhiên)
Hiện tượng này xuất hiện vì lực bán mạnh đã giảm đi rất nhiều. Chỉ cần một lực cầu nhỏ cũng dễ dàng đẩy giá tăng lên. Mức giá cao nhất của đợt hồi phục này là điểm để xác định đường kháng cự của một giai đoạn tích lũy.
- ST (Secondary Test – Điểm test cung thứ 2)
Tức là giá sẽ điều chỉnh giảm trở lại khu vực đáy của điểm SC với mục đích là test lại mức cân bằng giữa Cung – Cầu ở vùng giá đó. Nếu đáy được xác nhận, khối lượng và biên độ giá sẽ giảm đáng kể so với điểm SC khix giá tiếp cận gần đường hỗ trợ. Thông thường sẽ có nhiều phiên test như vậy sau điểm SC.
- Springs hoặc Shakeouts thường xảy ra ở giai đoạn sau của giai đoạn tích lũy, đó là những phiên Smart Money rũ bỏ các nhà đầu tư nhỏ lẻ trước khi bắt đầu chuyển sang giai đoạn Uptrend. Một phiên Spring thường có mức giá thấp nhất thấp trong phiên phá vỡ đường hỗ trợ nhưng giá đóng cửa tăng trở lại trên đường hỗ trợ. Hành động này chính là hành động của Smart Money nhằm mục đích đánh lừa những nhà đầu tư nhỏ lẻ để họ nghĩ rằng xu hướng giảm tiếp tục và cũng là để mua được thêm cổ phiếu với mức giá hời. Một phiên shakeout ở đoạn cuối của giai đoạn tích lũy giống như một phiên Spring nhưng mạnh hơn nhiều.
Phiên Shakeouts cũng có thể xuất hiện khi quá trình đẩy giá đã bắt đầu, với một tốc độ giảm nhanh và mạnh khiến cho các nhà đầu tư nhỏ lẻ không giữ được hàng và bán hết ra cho Smart Money. Tuy nhiên phiên Spring và Shakeout không phải là tín hiệu bắt cuộc phải xuất hiện: Sự tích lũy theo sơ đồ dạng 1 môt tả một phiên Spring, trong khi ở sơ đồ dạng 2 là giai đoạn tích lũy mà không có phiên Spring.
Có 03 loại Spring:
Spring số 1: Đánh đồng giá
Đây là phiên Spring kèm khối lượng lớn hơn rất nhiều ở những lần giảm trước đó trong vùng tích lũy. Chúng ta sẽ không mở vị thế mua ở phiên Sping kiểu này. Thay vào đó chúng ta sẽ bán hàng ra (mở vị thế short) nếu sau phiên Spring này giá không thể hồi phục vượt qua đường hỗ trợ (lúc này đường hỗ trợ trở thành đường kháng cự mới), đặc biệt nếu phiên sau giá hồi phục lại yếu (không vượt qua được đường hỗ trợ) với 1 nửa khối lượng khi bắt đầu phiên Spring (Xem dữ liệu khối lượng lớn nhất ở mức giá nào).
Spring số 2: Kiểu Spring này có khối lượng cao hơn ở kiểu số 3.
Điều này cho thấy vẫn còn lượng cung lớn ở mức giá này vì vậy sẽ cần xuất hiện phiên ST ở đường hỗ trợ thì mới xác nhận tín hiệu mua. Sau khi giá Breakdown qua đường hỗ trợ thì giá đóng cửa quay trở lại trên đường hỗ trợ. Lý tưởng nhất là khối lượng ở đợt giảm nhỏ hơn khối lượng khi giá hồi phục trở lại trong phiên và cũng lớn hơn khối lượng các đợt hồi phục trước đó trong vùng tích lũy. Phiên test ST xuất
hiện sau đó là thành công nếu giá điều chỉnh khoảng 1/3 mức giảm phiên Spring kèm theo khối lượng thấp.
Spring số 3: Đây là phiên Spring mà giá giảm qua đường hỗ trợ nhưng mức giảm không cao kèm theo khối lượng thấp. Đây là tín hiệu cho thấy cung đã cạn kiệt. Nếu xuất hiện kiểu Spring này chúng ta có thể mua ngay mà không cần chờ phiên test ST thành công.
- Test: Smart Money luôn sử dụng các phiên test cung trong suốt quá trình tích lũy và tại các điểm chính trong một giai đoạn tăng giá. Nếu xuất hiện một lượng cung lớn ở các phiên test cung, điều đó có nghĩa là giá chưa sẵn sàng để đẩy lên mức cao hơn. Một phiên Spring thường được theo sau bởi một hoặc nhiều phiên test cung; một phiên test cung thành công (Có nghĩa là giá chuẩn bị tăng) thường có khối lượng giao dịch giảm khi giá bị điều chỉnh và tạo đáy cao hơn đáy của phiên spring.
- SOS (Sign of Strength – Chỉ số sức mạnh) là phiên tăng giá với biên độ rộng kèm theo khối lượng tăng cao. Thường một phiên SOS xuất hiện sau phiên Spring, đây chính là tín hiệu xác nhận hành động giá trước đó (nghĩa là xác nhận giá đã tạo đáy và chuyển sang giai đoạn tăng giá).
- LPS (Last Point of Support – Điểm hỗ trợ cuối cùng) là mức giá thấp nhất của những phiên điều chỉnh sau khi xuất hiện phiên SOS. Và mức giá thường sẽ điều chỉnh về gần mức kháng cự trước đó với biên độ giá và khối lượng giảm. Trên một số biểu đồ, có thể có nhiều LPS.
- BU (back-up). Đây là một thuật ngữ mang tính ẩn dụ đươc phát minh bởi Robert Evans, một trong những giáo viên hàng đầu của phương pháp Wyckoff từ những năm 1930 đến những năm 1960. Evans nói rằng phiên BU là việc giá vượt qua mức kháng cự, nhưng sau đó lại điều chỉnh trở lại mức kháng cự để test lại nguồn cung xung quanh mức kháng cự trước đó. BU là một phiên xuất hiện để test cung trước khi giá được đẩy lên mức cao hơn và có thể có nhiều dạng khác nhau, bao gồm một phiên điều chỉnh đơn thuần hoặc một giai đoạn tích lũy lại ở một nền giá cao hơn. Đây chính là kiểu phiên UT số 1 Tham khảo 3 loại UT ở phần “giai đoạn phân phối”.
- JAC (Jumper a Creek)

Giá vận động khác nhau khi một xu hướng bắt đầu. Mỗi thanh giá chứa một ý nghĩa khác nhau trong giai đoạn sideway của giai đoạn tích lũy, và mỗi thanh bar lại có một ý nghĩa khác nhau khi một xu hướng bắt đầu. Một xu hướng lớn, dài được sinh ra trong quá trình tạo nền tích lũy. Bạn cần quan tâm đặc biệt đến sự vận động của giá để phát hiện ra sự thay đổi này như khi một xu hướng bắt đầu, và bắt đầu thực hiện chiến dịch của mình.
Trong vùng tích lũy, lực cung bán ra làm cho giá không thể tăng. Cung không phải là hiện tượng tuyến tính (Tức là lớn dần theo thời gian mà nếu được hấp thụ sẽ cạn dần). Ví dụ lệnh đặt bán không bao giờ cố định ở một mức giá, chẳng hạn như 50$. Smart Money hiểu rằng lượng cung lớn sẽ xuất hiện và làm kìm lại đà tăng và giá sẽ phải điều chỉnh trở lại đường hỗ trợ. Mỗi nỗ lực đẩy giá có thể gặp phải một lượng cung ở các mức giá khác nhau bên trong vùng tích lũy.
4. Các giai đoạn tích lũy
Giai đoạn A
Giai đoạn A đánh dấu sự dừng lại của xu hướng downtrend trước đó. Điểm PS là một dấu hiệu sớm chỉ ra việc xuất hiện một lực cầu lớn bắt đầu hấp thụ. Tại điểm này thì Cung vẫn lớn hơn Cầu. Điểm SCLX xuất hiện sau đó kèm theo biên độ giá lớn và khối lượng tăng mạnh. Những sự kiện này thường rất dễ phát hiện khi quan sát trên đồ thị giá, khi mà xuất hiện những phiên có biên độ giá rộng và khối lượng lớn, điều này có nghĩa là phần lớn nguồn cung đã được hấp thụ bởi Smart Money.
Áp lực bán ở phiên SCLX không duy trì lâu kèm theo việc xuất hiện lực cầu mua khiến cho giá hồi phục trở lại trong ngắn hạn. Các điểm AR chỉ ra rằng SCLX đã hoàn thành. Giai đoạn A được kết thúc khi giá được test lại vùng SCLX và được gọi là ST. Một phiên điều chỉnh test lại vùng giá của SC được gọi là thành công khi áp lực bán đã ít đi tức là biên độ giá hẹp dần và khối lượng ít dần, thường tạo đáy cao hơn hoặc bằng với đáy của phiên SC. Nếu phiên ST có đáy thấp hơn ở phiên SC thì điều này cho ta tín hiệu xu hướng giảm chưa dừng lại và có thể giảm về mức thấp hơn. Đáy của SC và ST sẽ tạo lên đường hỗ trợ trong một giai đoạn tích lũy; tương tự như vậy mức giá cao nhất của phiên AR các định mức kháng cự. Các đường ngang có thể được vẽ để giúp bạn tập trung vào hành vi của thị trường, như trong hai sơ đồ tích lũy ở trên.
Đôi khi xu hướng downtrend có thể kết thúc sớm hơn mà không xuất hiện đầy đủ các tín hiệu như trên. Tuy nhiên sẽ tốt hơn nếu bạn thấy xuất hiện đầy đủ các tín hiệu PS, SC, AR và ST vì chúng không chỉ mang lại một quy luật vận động trên biểu đồ một cách rõ ràng mà còn là dấu hiệu rõ ràng để cho thấy smart money đã bắt đầu tham gia trở lại bằng cách tích lũy mua lại cổ phiếu.
Lưu ý: Trong một giai đoạn tích lũy lại (Xảy ra khi cổ phiếu đang trong xu hướng uptrend), các điểm PS, SC và ST không cần xuất hiện trong giai đoạn A. Thay vào đó, trong các trường hợp như vậy, giai đoạn A trong quá trình tích lũy lại tương tự như trong quá trình phân phối (Tham khảo phần dưới). Các giai đoạn BE trong quá trình tích lũy lại tương tự như trong giai đoạn tích lũy ở nền 1 nhưng thường có thời gian ngắn hơn và biên độ nhỏ hơn so với trong giai đoạn tích lũy ở nền thứ nhất. Giai đoạn tích lũy lại được trình bày trong phần giai đoạn uptrend.
Giai đoạn B
Trong phương pháp phân tích của Wyckoff, giai đoạn B chính là giai xây dựng một “nguyên nhân” (Chính là tạo nền tích lũy) cho một xu hướng tăng mới (Tham khảo phần quy tắc số 2 – “Cause and Effect”).
Đặc điểm của giai đoạn này là xuất hiện sự biến động giá mạnh với biên độ giá lớn ở đầu giai đoạn B, biên độ giá sẽ hẹp dần ở cuối giai đoạn này. Sự biến động mạnh trong giai đoạn này nhằm mục đích rũ bỏ những nhà đầu tư vẫn nắm giữ hàng ở giai đoạn A. Đây là giai đoạn xuất hiện sự hấp thụ chính. Bạn cần quan sát xem sự hấp thụ ở giai đoạn này có hiệu quả hay không, tức là lực cầu hấp thụ có đủ mạnh và lượng cung đã được hấp thụ nhiều chưa. Miễn là nguồn cung vẫn còn ở giai đoạn này thì sự hấp thụ hiệu quả sẽ tạo ra một nguyên nhân rất lớn cho hệ quả tăng sau này. Hãy sử dụng các đường kháng cự và hỗ trợ để xác định vùng giá vận động trong giai đoạn này. Việc so sánh thời gian (số phiên) và mức độ hồi phục cũng như điều chỉnh trong giai đoạn B sẽ giúp bạn biết được các tín hiệu sớm của mức độ hấp thụ tăng lên (Nguồn cung đã hấp thụ nhiều hay ít).
Trong giai đoạn B, smart money tiến hành mua cổ phiếu trên thị trường ở mức giá thấp để chuẩn bị cho giai đoạn đẩy giá sau này. Quá trình tích lũy này có thể mất một khoảng thời gian dài (đôi khi mất hàng năm hoặc lâu hơn), họ tiến hành mua vào cổ phiếu với giá thấp và bán ra một lượng cổ phiếu có sẵn để test cung.
Thường sẽ có nhiều phiên ST trong giai đoạn B, cũng như việc xuất hiện các phiên upthrust ở quanh đường kháng cự. Nhìn chung, Smart money tiến hành mua ròng cổ phiếu trong suốt quá trình tích lũy với mục đích là nắm giữ số lượng lớn cổ phiếu trôi nổi trên thị trường, số lượng càng nhiều càng tốt. Hành động mua gom làm tăng giá và bán ra để đạp giá ở giữ mức kháng cự và hỗ trợ là một tín hiệu đặc trung trong giai đoạn tích lũy.
Ở những thời điểm đầu của giai đoạn B biên độ giá thường rộng kèm theo khối lượng lớn. Vì smart money hấp thụ nguồn cung bán ra, tuy nhiên khối lượng ở những phiên giảm trong giai đoạn tích lũy thường có xu hướng giảm. Khi nguồn cung bắt đầu cạn kiện, đây là dấu hiệu của việc chuẩn bị chuyển sang giai đoạn C.
Giai đoạn C
Giai đoạn này sự hấp thụ gần như hoàn tất và ở giai đoạn này xuất hiện các phiên test cung của smart money mục đích là để kiểm tra xem cổ phiếu đã sẵn sàng cho giai đoạn đẩy giá hay chưa. Như đã nói ở trên, phiên Spring là phiên có mức giá thấp nhất thấp hơn đường hỗ trợ nhưng giá đóng cửa nhanh chóng quay trở lại cao hơn mức hỗ trợ. Đây là một bẫy giảm giá (Bear Trap) nhằm bẫy những nhà đầu tư nhỏ lẻ bán hàng ra và để smart money mua thêm được cổ phiếu giá rẻ.
Trong phương pháp của Wyckoff, những phiên test cung thành công sau phiên Spring (hoặc phiên rũ bỏ – Shakeout) chính là những phiên cho điểm mua đầu tiên có khả năng đem lại mức lợi nhuận rất tốt. Một phiên Spring có khối lượng giao dịch thấp (Hoặc phiên Shakeout với khối lượng thấp) chỉ ra rằng cổ phiếu có khả năng sẵn sàng để tăng giá, vì vậy đây là thời điểm tốt để bắt đầu tham gia mở vị thế mua 1 phần sức mua (kiểu Spring số 1).
Sau điểm Spring giá sẽ tăng lên và vẫn xuất hiện các phiên test nhưng các đáy sau thường cao hơn đáy trước. Phân tích của Wyckoff cho rằng những đáy cao cuối cùng trước khi giá vượt qua đường kháng cự là LPS và điểm này cũng quan trọng như điểm Spring. Việc test cung ở đường hộ trợ là hành động cuối cùng trước khi bắt đầu một xu hướng uptrend. Đây là mục đích chính của giai đoạn C.
Lưu ý: ở trong sơ đồ mô hình tích lũy số 2, việc test cung có thể xảy ra ở đường kháng cự mà không xuất hiện phiên Spring hoặc Shakeout; trong trường hợp này việc xác định giai đoạn C có thể sẽ khó khăn.
Giai đoạn D
Việc test cung thành công ở vùng giá thấp nhất trong giai đoạn C chỉ ra rằng lượng cung còn rất ít, và chỉ cần một lượng cầu nhỏ cũng sẽ làm giá tăng lên. Giá cổ phiếu sẽ tăng lên khi xuất hiện lực cầu nhiều hơn và biên độ giá tăng mạnh hơn. Giai đoạn D chính là điểm cuối cùng của giai đoạn tích lũy.
Giai đoạn C và D rất quan trọng và bạn có thể tiến hành mở vị thế mua sớm ở những giai đoạn này. Các thuật ngữ JAC và SOS biểu thị các hành động giá Breakout. Những phiên điều chỉnh với biên độ giá hẹp và khối lượng thấp được gọi là LPS hoặc BUEC. Trong giai đoạn D, lượng cung được kiểm soát hoàn toàn và các smart money khác bắt đầu nhận ra dấu hiệu của một xu hướng uptrend mới. Điều này khiến họ chú ý đến cổ phiếu và bắt đầu mua vào, nhưng do nguồn cung đã cạn kiện nên lực mua này sẽ làm giá tăng lên rất mạnh và nhanh.
Điều này được xác nhận khi xuất hiện mẫu hình SOS với biên độ giá và khối lượng tăng, và vận động ở những điểm LPS sẽ có biên độ giá hẹp và khối lượng thấp. Trong giai đoạn D, giá ít nhất sẽ tăng lên đến mức kháng cự. Phiên LPS trong giai đoạn này thường là những điểm mua mới hoặc điểm mua gia tăng rất đẹp.
Giai đoạn E
Đây là giai đoạn cổ phiếu đã thoát khỏi nền tích lũy và bắt đầu xu hướng uptrend. Lúc này Cầu vượt trội so với Cung và việc giá tăng là điều hiển nhiên. Những phiên điều chỉnh như shakeout và những kiểu điều chỉnh giá khác thường xuất hiện trong khoàng thời gian ngắn (vài phiên điều chỉnh hoặc thậm chí có thể điều chỉnh trong phiên).
Rèn luyện kỹ năng theo phương pháp Wyckoff Không có phương pháp giao dịch nào thành công tuyệt đối. Vì vậy những nhà giao dịch thành công là những người có cách quản lý rủi ro tốt nhất. Phương pháp của Wyckoff giúp bạn quản lý rủi ra bằng cách tìm kiếm các tín hiệu của một cổ phiếu hàng đầu và có khả năng đem lại lợi nhuận tốt nhất.
Một số các tín hiệu được định nghĩa là: Cổ phiếu hồi phục Break khỏi kênh xu hướng giảm, hình thành giai đoạn tích lũy, hoàn thiện tích lũy với các phiên test cung cuối cùng bằng cách xuất hiện các Spring hoặc LPS sau đó giá tăng liên tục break khỏi nền tích lũy. Thông qua việc rèn luyện các kỹ năng quan sát các tín hiệu này bạn sẽ có khả năng rất tốt trong việc tìm kiếm và sở hữu những cổ phiếu có cơ hội đem lại lợi nhuận tốt nhất.
Để trở thành một người thành thạo phương pháp của Wyckoff và ứng dụng thành công trong thực tế, cách tốt nhất là bạn thực hành liên tục trên các biểu đồ trong quá khứ để tập tìm kiếm và xác định các dấu hiệu.


