Khái niệm tài chính hành vi
1. Thị trường hiệu quả
Chúng ta thường quen thuộc với lý thuyết thị trường hiệu quả tức là mọi thông tin ngay lập tức đều phản ánh vào giá tài sản. Nếu đó là tin tức tốt thì giá sẽ lên và nếu tin tức đó là xấu thì giá sẽ đi xuống. Thuyêt thị trường hiệu quả được định nghĩa ở ba dạng: dạng yếu, dạng vừa và dạng khỏe.

Ở dạng yếu, lý thuyết này cho rằng mọi thông tin quá khứ đều đã phản ánh vào giá. Ở dạng vừa, nó cho rằng cả thông tin công bố ra công chúng hiện hữu cũng đã phản ánh vào giá. Còn ở dạng khỏe, lý thuyết thậm chí cho rằng cả những thông tin riêng, nội gián cũng đã phản ánh vào giá.
Với ba dạng như vậy, nếu thị trường là hiệu quả thì những nhà đầu tư không còn cơ hội để phân tích tìm kiếm nữa, bởi vì họ sẽ chỉ luôn nhận được lợi nhuận thị trường thay vì lợi nhuận vượt trội như họ kỳ vọng. Những nhà phân tích hay các chuyên gia sẽ không có việc để làm ngoài việc giúp phân bổ danh mục theo mức độ rủi ro của khách hàng.
Tuy nhiên, mặc dù không thể bác bỏ lý thuyết, nhưng có nhiều bằng chứng thực nghiệm cho thấy thị trường không thực sự hiệu quả như lý thuyết. Thị trường thì vẫn hoạt động trong khi các nhà nhiên cứu vẫn ngày đêm đi tìm câu trả lời cho câu hỏi: Liệu thị trường có hiệu quả không và ở dạng nào? Không ngạc nhiên khi cùng một vấn đề người nói có, kẻ nói không.
Tính theo số lớn, người ta đồng ý rằng thị trường nhiều khả năng hiệu quả ở dạng yếu, có khả năng hiệu quả ở dạng vừa và ít có khả năng hiệu quả ở dạng khỏe. Nghĩa là, nếu chúng ta có thông tin nội gián và có khả năng tốt trong việc phân tích các thông tin mới được công bố, thì vẫn có cơ hội đạt được lợi nhuận vượt trội.
Những bằng chứng thực nghiệm đó là dễ hiểu, bởi thuyết thị trường hiệu quả dựa trên một giả định quan trọng phi thực tế gọi là “sự hợp lý của lý trí”, nghĩa là con người thường suy nghĩ và hành động một cách có suy tính thiệt hơn cẩn thận, họ cùng nhận được thông tin giống nhau và có khả năng xử lý thông tin như nhau.
Nhưng thực tế thì không phải vậy, chúng ta đều có những nguồn tin không giống nhau, thậm chí cùng nguồn tin nhưng khả năng xử lý cũng hoàn toàn khác nhau, ngay cả khi có thể xử lý giống nhau thì vẫn còn một yếu tố nữa chi phối, đó là tâm lý. Chúng ta không phải bao giờ cũng thường làm theo những gì tốt nhất, kể cả khi biết điều đó. Chẳng hạn, bị chi phối bởi nỗi sợ hãi hoặc tham lam theo đám đông là điều thường thấy.
2. Tài chính hành vi
Những giả định phi thực tế của thị trường hiệu quả, tức là tài chính thông thường, dẫn tới một hướng đi khác trong tài chính, gọi là tài chính hành vi. Tài chính hành vi cho rằng, con người thường xuyên bối rối trong việc ra quyết định chứ không đơn giản là cứ cái nào có lợi hơn theo lý trí thì làm. Lý thuyết tài chính hành vi cho rằng, quá trình ra quyết định tài chính của con người cần được nhìn nhận bởi sự kết hợp giữa nguyên lý tâm lý học và kinh tế học thay vì chỉ là kinh tế học như thông thường.

Tài chính hành vi phát triển sau nhưng nhận được sự ủng hộ của một nửa thế giới – theo nghĩa mỗi cá nhân thực chất chỉ có thể hoặc là tin vào thị trường hiệu quả, hoặc là tin vào tài chính hành vi (ngoại trừ những ai không biết). Cũng có thể một lúc nào đó thì bạn sẽ tin vào hiệu quả thay vì hành vi và ngược lại, nhưng chắc chắn không thể cùng lúc tin vào cả hai.
Tài chính hành vi có nhiều nghiên cứu thú vị dựa trên trải nghiệm thực tế, nhưng tựu trung lại, nó bao gồm hai luận điểm chính.
Thứ nhất, con người có xu hướng thành kiến, không theo chuẩn mực và thường không dùng thông tin mới để xem lại những lập luận cũ, mà theo hướng lựa chọn thông tin mới để củng cố lập luận hiện có của họ. Có rất nhiều sai lệch nhận thức được các học giả công bố có thể giải thích bằng sự thành kiến, chẳng hạn như con người ứng xử rất khác nhau giữa “được” và “mất”. Ví dụ, họ thường an toàn với cái được – tức là lựa chọn cái được chắc chắn, nhưng lại sẵn sàng liều với cái mất – tức là sẵn sàng liều để tránh mất dù có thể còn mất nhiều hơn. Ví dụ như trong đầu tư chứng khoán, họ thường có tâm lý chốt lãi sớm nhưng lại không dám bán các khoản lỗ. Hoặc họ cũng cảm thấy buồn lâu hơn rất nhiều khi thua lỗ một khoản tiền so với việc họ vui sướng khi được cùng một khoản tiền tương tự. Điều này dẫn tới việc họ sợ thua.
Thứ hai, con người có xu hướng đại khái, tức là họ thích làm những cái gì dễ dùng, dễ hiểu và theo kinh nghiệm hơn là phải thực hiện phân tích một cách phức tạp chuẩn mực. Chẳng hạn, con người thường dễ bị chi phối bởi đám đông, bởi vì họ tin rằng chắc đám đông phải có tin gì đó khác mà không tự mình đi tìm hiểu. Khi họ ở trong đám đông, họ cũng hành động rất khác so với khi họ một mình. Hoặc con người cũng thường có xu hướng quá tự tin vào bản thân mình dựa trên những thành công trong quá khứ, hoặc họ rất bảo thủ dựa trên kinh nghiệm.


